Tôi bước qua những dãy tủ trưng bày. Nhìn kìa, đằng sau lớp kính mờ hơi sương của năm tháng là gì? Một chiếc lưỡi hái han gỉ. Một chiếc đòn gánh gãy đôi. Một chiếc áo tơi lá tơi tả vá chằng vá đụp. Và một chiếc trống đình làng mặt da trâu đã sờn mòn.
Tôi cứ đứng lặng rất lâu trước chiếc lưỡi hái. Bản chất của vạn vật trên cõi đời này, từ thuở sơ khai, vốn dĩ hiền lành. Chiếc lưỡi hái ấy được người thợ rèn đánh ra, mang một sứ mệnh trĩu nặng yêu thương: gặt những bông lúa chín vàng để nuôi sống con người. Nó là biểu tượng của mùa màng, của cội nguồn no ấm. Chiếc đòn gánh kia là để oằn mình quẩy hai thúng khoai thơm mùi đất ải. Và chiếc trống Hạnh Lâm dẫu to lớn nhường kia, tự ngàn xưa cũng chỉ dùng để cất tiếng tùng tùng rộn rã gọi dân làng xem hội, rước thần, hay đón một mùa xuân mới.
Vậy mà cớ sao? Cớ sao những vật dụng hiền hòa ấy lại phải tướp máu? Cớ sao chiếc trống phải lột xác hóa thành trống trận. Âm thanh cất lên không còn để gọi thần linh, mà để hiệu triệu nhân quần. Cớ sao những người nông dân xứ Nghệ vốn quen cắm mặt xuống luống cày, hiền như củ khoai, mộc mạc như cọng rơm cọng rạ lại phải vác chúng lên vai, rùng rùng lao vào đồn khố xanh, khố đỏ?
Nhà Phật vẫn thường răn, cõi nhân sinh này vốn là bể khổ. Nhưng cái khổ của người bần nông nghèo những năm ba mươi thế kỷ trước, có lẽ chư Phật nhìn xuống cũng phải rơm rớm nước mắt. Một cổ hai tròng, sưu cao thuế nặng. Đất đai cằn cỗi sỏi đá cắn răng lại không sinh nổi hạt lúa nẩy mầm, trong khi đòn roi của sự tàn bạo thì quất rát thịt da. Khi con người bị dồn đến tận cùng của bức tường sinh tử thì sự phản kháng không còn là một ý niệm chính trị xa xôi nào đó, mà nó trở thành bản năng sinh tồn. Họ vung chiếc liềm lên, biến chiếc đòn gánh thành ngọn giáo, không phải vì họ say mê bạo lực. Họ vung lên chỉ vì một lẽ đơn giản mà xót xa: họ khao khát được sống, được làm một con người đứng thẳng, được hít thở khí trời tự do mà không phải mang thân phận ngựa trâu.
Đi qua khu trưng bày những gông cùm, xiềng xích, tôi thấy lòng rùng mình ớn lạnh. Khối sắt thép đen ngòm kia từng siết vào cổ tay, cổ chân rỉ máu của bao kiếp người bé nhỏ. Trong sự đối đầu giữa sắt thép bạo cường và da thịt mỏng manh, ngỡ như sắt thép sẽ thắng thế. Nhưng lịch sử đã chứng minh điều ngược lại. Sắt thép hoen rỉ, mục nát, nằm lại đây để trở thành vật chứng cho sự tàn ác, vô minh của con người. Còn khát vọng tự do thì bám rễ, đâm chồi, và bay lên. Bởi vì, người ta có thể cùm kẹp được thể xác, nhưng làm sao có thể đóng gông được một ngọn gió? Làm sao có thể nhốt tù được một tia sáng ban mai?
Tôi kinh ngạc trước một hiện tượng tiếp biến chính trị vô song nằm ẩn sau những lồng kính nơi đây. Chữ "Xô Viết" (Soviet) - vốn là một từ vựng chính trị ngoại lai mang ý nghĩa hội đồng dân ủy tận nước Nga băng tuyết - đã được "Nghệ Tĩnh hóa" một cách diệu kỳ. Những người cộng sản mặc áo vải đã gột rửa tính hàn lâm của nó, đem tẩm ướp vào bùn non An Nam, biến nó thành "Xã bộ nông", thành các "Làng đỏ". Lý luận hàn lâm đi vào xóm thôn qua bát nước chè xanh chát ngầm và điệu ví giặm đò đưa.
Nhìn những tờ truyền đơn in mộc bản trên giấy dó ố vàng, ta rúng động khi đọc những vần thơ:
"Kìa Bến Thủy đứng đầu dậy trước,
Nọ Thanh Chương tiếp bước tiến lên.
Nam Đàn, Nghi Lộc, Hưng Nguyên,
Anh Sơn, Hà Tĩnh một phen dậy rồi..."
Chỉ bằng một cặp đại từ phiếm chỉ "Kìa - Nọ", nhà thơ - chiến sĩ Đặng Chánh Kỷ đã tạo ra một không gian nghệ thuật bành trướng, bao quát cả một vùng lãnh thổ rộng lớn. Tầm nhìn vút qua ngã ba sông Lam, dội lên tận non cao Thanh Chương. "Kìa" và "Nọ" hiện ra như một tín hiệu ngôn ngữ xuất thần trong một cấu trúc dân gian, tự thân nó tạo nên một ấn tượng mang thông điệp nghệ thuật về một sức lây lan như bão lửa, một sự bùng nổ dây chuyền. Trong những năm tháng ấy, cấu trúc ví giặm vốn dĩ chỉ để nam nữ đối đáp "quên nhau khó lắm chi bằng nhớ nhau", bỗng lột xác thành vũ khí sắc bén để dân cày rỉ tai nhau trong đêm thâu. Sự dung dị, mộc mạc đến tận cùng ấy lại hàm chứa sự phản ánh hoàn cảnh và một sứ mệnh tuyên truyền vĩ đại. Lịch sử đã chứng kiến người xứ Nghệ làm cách mạng bằng chính hồn cốt văn nghệ của quê hương mình.
Nhưng, lịch sử chưa bao giờ chỉ có thi ca. Nó mang sức nặng đẫm máu. Không gian nặng trĩu nhất bảo tàng là nơi mô phỏng sự kiện ngày 12 tháng 9 năm 1930 ở ngã ba Thái Lão. Hơn tám ngàn dân cày tay không tấc sắt rầm rập kéo đi đòi quyền sống. Phản hồi của nền văn minh "khai hóa" phương Tây là gì? Là điều máy bay dội bom thẳng vào đoàn người biểu tình. 217 sinh mệnh bị xé nát. Lần đầu tiên trên xứ Đông Dương, thứ công nghiệp chiến tranh tối tân bị đem ra để dìm những người dân hiền lành vào bể máu. Nhưng thực dân Pháp không ngờ, thứ máu ấy không bốc hơi, nó lặn sâu vào tầng phù sa, tẩm tưới cho những hạt giống bám rễ sâu hơn vào đất đá châu Hoan để mười lăm năm sau nở rộ thành cuộc Tổng khởi nghĩa mùa Thu lịch sử.
Đứng trước bức tường ghi danh những con người đã ngã xuống, tôi tự hỏi: Chúng ta lập bảo tàng, giữ lại những tàn tro và máu lệ của quá khứ, để làm gì? Để cào xé lại những vết thương chưa bao giờ liền sẹo chăng? Để nuôi dưỡng oán hờn chăng?
Không. Nếu lịch sử chỉ để lại trong lòng thế hệ sau những hòn đá tảng của hận thù, thì lịch sử ấy bóp nghẹt sự sống.
Chúng ta nhìn vào cái chết để biết nâng niu sự sống. Chúng ta nhìn vào đôi gông cùm rỉ sét để thấu hiểu rằng, từng hơi thở bình yên ta đang có hôm nay, từng vạt nắng chiều rực rỡ ngoài kia, đã được thế hệ đi trước trả bằng một cái giá cực kỳ đắt. Lịch sử bày ra trước mắt ta sự tàn khốc, cốt là để ta biết sống dịu dàng hơn với hiện tại, biết bao dung hơn với đồng loại. Nhìn vào cái ác đã qua để gieo mầm cái thiện cho ngày sắp tới.
Tôi bước ra khỏi bậc thềm bảo tàng. Gió Lào vẫn nung ran không khí. Thành Vinh ngoài kia đèn hoa rực rỡ. Nhưng đằng sau sự ồn ã ấy, dường như vẫn văng vẳng âm ba của tiếng sấm rền vang. Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh không phải là một vòm đền hoài cổ, nó là lò lửa thiêng ủ giữ cái gen quật cường của văn hóa dân tộc. Một cộng đồng nếu đứt gãy ký ức với những hy sinh lẫm liệt của tiền nhân, là một cộng đồng trôi dạt. Chạm vào bảo tàng, là chạm vào chí khí của những kiếp cần lao áo vải đã lấy thịt xương mình mà lót đường cho độc lập non sông. Đứng trước một thứ lịch sử có sức nặng ngàn cân như thế, kẻ hậu sinh chúng ta chỉ biết cúi đầu tạc dạ.



