Nhìn từ cội nguồn tín ngưỡng lúa nước, cái trống không đơn thuần là nhạc cụ. Cổ nhân có chữ "Kích cổ động thần" - đánh trống để lay động đến tai quỷ thần. Tiếng trống, ở bản thể nguyên thủy nhất của nó, là ma thuật mô phỏng tiếng sấm. Sấm rền thì gọi mưa, mưa xuống thì tốt lúa, lúa tốt thì dân an. Bởi thế, nó là dải ăng-ten tâm linh nối thẳng từ mặt bùn lầy nẻ nứt lên tận cửu trùng. Về Yên Thành - cái "vựa lúa" bạt ngàn trù phú bậc nhất xứ Nghệ, khảo sát Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Nghệ thuật Trống tế, ta mới thấy cha ông mình đã gửi gắm một hệ thống triết mỹ thâm sâu dường nào vào trong cái nhịp "tùng... cắc".

Hội thi đánh trống tế được tổ chức ở các lễ hội đền, chùa

Nói chữ một chút, dưới góc nhìn lịch sử văn hóa, Trống tế Yên Thành cung cấp cho chúng ta một ví dụ kinh điển, đẹp như trong sách giáo khoa về quy luật "dân gian hóa" nghệ thuật cung đình. Truy lục thư tịch cổ và gia phả họ Phan Tất ở xã Hoa Thành, di sản này có một "lý lịch" rất sang trọng. Nó gắn liền với danh nho Phan Tất Thông - vị Thám hoa đỗ đệ nhất giáp khoa Nhâm Thìn (1592). Tương truyền, khi triều Lê Trung Hưng đánh dẹp nhà Mạc, thu phục Thăng Long, mở tiệc "Thái bình diên yến", chính vị Thám hoa quê lúa này đã soạn thảo bản "Nhạc trống Hạ Thành" mang tính quy phạm, niêm luật khắt khe để dâng tấu chốn miếu đường.

Thế nhưng, cái kỳ diệu của văn hóa Việt Nam luôn nằm ở sức thẩm thấu và sự dung hợp. Không gian sân rồng thì hạn chế, mà tâm hồn dân gian lại bao la. Khi bậc tiên hiền cáo quan về quê, khúc nhã nhạc ấy đã đi vào vòng tay của những lão nông tri điền áo nâu chân đất. Nó rũ bỏ lớp áo chốn lầu son, nhào nặn với hơi thở của bùn non, rơm rạ, để hóa thân thành nhạc trống tế trong những dịp kỳ yên, thu tế tại đền Cả, đền Cờn, đình Kẻ Gám... Từ chỗ là âm nhạc tấu cho thiên tử nghe, nó hóa thân thành phương tiện để bách tính giao cảm với Thành hoàng và liệt tổ liệt tông. Sự giao thoa giữa "đại tự sự" của triều đại và "tiểu tự sự" của làng xã đã sinh thành một di sản.

Khảo sát dưới góc độ nhạc khí học, bản thân cấu tạo của dàn trống tế Yên Thành đã là một "tiểu vũ trụ" hàm chứa vũ trụ quan sâu sắc. Để làm nên một quả "trống sấm", tang trống cái dứt khoát phải đẽo từ lõi mít ròng hàng trăm năm tuổi - loài "mộc ba la" thiêng liêng gắn với Phật giáo, mang tính dương, không bao giờ mối mọt. Mặt trống phải bưng bằng da con trâu mộng. Bởi nếu dùng da của trâu non thì mỏng, bưng lên đánh dễ vỡ tiếng và nhanh bục. Da trâu cái thì lỗ chân lông to, cấu trúc da xốp, đánh một thời gian sẽ bị dão làm tịt âm. Chỉ có da trâu mộng dầm mưa dãi nắng, gò lưng kéo cày mới dày dặn, chai sạn và dẻo dai. Khi được nạo sạch mỡ, thuộc kỹ và dùng dây mây, nêm đinh tre kéo thật căng lên tang gỗ mít, mặt da trâu mộng tạo nên một biên độ rung tuyệt hảo. Nó chịu được sức nén của những cú nện dùi trời giáng, dội vào lòng trống tạo nên thứ âm thanh siêu trầm, vang vọng như sấm động. Âm thanh đó có độ tĩnh sâu thẳm. Đó là thứ tiếng  uy vũ đủ sức “kích cổ động thần”. Sự kết hợp giữa gỗ mít và da trâu qua bàn tay của người thợ mộc đã "thiêng hóa" thành một pháp khí.

Đội trống tế Yên Thành (Nghệ An) thường có từ 5 - 10 nhạc cụ

Một biên chế diễn xướng chuẩn quy tụ từ 5 đến 10 nhạc cụ. Đứng trung tâm tựa như trục càn khôn là trống cái, vây quanh là bầy trống con ríu rít thưa mau, cộng thêm thanh âm rổn rảng mang tính kim của não bạt xập xèng, có khi điểm xuyết tiếng sáo, tiếng nhị mang tính mộc. Tất cả vận hành theo nguyên lý Âm - Dương, Ngũ hành tương sinh tương khắc.

Cái khắt khe, cái "đạo" của thực hành trống tế Yên Thành nằm ở sự tương tác mang tính ký hiệu học rất cao giữa hai hệ thống: "Thông xướng" và "Trống lệnh". Khẩu lệnh của vị chủ tế cất lên tựa như Lý - sự chỉ đạo; lập tức, tiếng trống cái dội xuống rành rọt tựa như Hành - sự thực hành, điều hướng toàn bộ đội tế bái lạy, tiến thoái.

Người cầm chầu khi ấy tuyệt đối không đánh bằng sức vóc bắp thịt. Đánh bằng cơ bắp thì tiếng dẫu to nhưng đục và rỗng tuếch. Họ đánh bằng sự tỉnh thức và lòng chấp kính. Mắt quán xuyến hiện trường, tai tập trung nghe xướng, tay vung dùi điểm huyệt lên mặt da trâu. Bài bản trống tế lưu giữ những triết lý thâm sâu. Đỉnh cao là nhịp "Tam hồi cửu cốc" (Ba hồi chín tiếng). Tại sao lại là 3 và 9? Số 3 là Tam tài: Thiên - Địa - Nhân giao hòa. Số 9 là con số Cực Dương, đại diện cho uy quyền tối thượng, vươn tới cõi cửu trùng. Mượn cái nhịp "ba hồi chín tiếng" ấy chính là dung âm thanh để xé toạc ranh giới phàm tục, mở toang không gian thiêng để mời anh linh giáng hạ.

Lại có những điệu "Trống đổ", "Trống sắp" dồn dập như vó ngựa xung trận, mang đậm tinh thần thượng võ của vùng đất phên dậu; thoắt cái lại chuyển sang điệu "Lưu thủy" (nước chảy) khoan thai. Chữ "lưu thủy" tấu lên giữa vựa lúa Yên Thành đâu chỉ là khúc nhạc nghe chơi, nó là sự thăng hoa của khát vọng phồn thực ngàn đời: cầu cho mưa thuận gió hòa, nguồn nước đẫm tưới cho đồng bãi. Âm nhạc lúc này đã làm thay chức năng của lời nguyện cầu.

Học sinh Trường THCS Phan Đăng Lưu đánh trống tế tại nhà thờ dòng họ Phan Tất (xã Yên Thành, Nghệ An)

Một hệ thống thâm sâu nhường ấy, lại được bảo lưu, chuyên chở qua mấy trăm năm binh lửa đạn bom bằng phương thức nào? Chẳng có trường lớp hàn lâm, chẳng có ký âm năm dòng kẻ, người Yên Thành trao truyền di sản bằng phương pháp "khẩu truyền tâm thụ" và một "trí nhớ cộng đồng" phi thường.

Về Kẻ Gám, Vân Hội hay Hoa Thành hôm nay, ta gặp những nghệ nhân như lão nông - thầy giáo Lê Khắc Dinh. Sáng ra, họ lấm lem bùn đất. Nhưng bước vào sân đình, thắt đai, khoác áo thụng, họ lập tức thoát tục, hóa thân thành những tư tế. Và cảm động thay, xen giữa những cụ già râu tóc bạc phơ nhắm mắt thả hồn theo âm thanh, là những đứa bé mầm non tay bo tay dùi dõng dạc điểm nhịp "tùng, cắc, tảng, xụp, xèng...". Khoảnh khắc đứa bé gõ lên mặt da trâu, ta nhận ra tiếng trống không chỉ là âm nhạc, nó là một mã gen di truyền, là tiếng gọi thiết tha của tiền nhân và lời đáp hiếu nghĩa của thế hệ hậu sinh.

Hội thi đánh trống tế Yên Thành

Nghệ thuật Trống tế Yên Thành may mắn thay vẫn đang cắm rễ, phập phồng thở trong huyết quản người quê lúa. Mỗi dịp Xuân Thu nhị kỳ, một hồi trống thiêng dội vào ngói âm dương rêu phong tựa như một chiếc mỏ neo định vị. Nó giữ cho tâm hồn con người ta không bị bứt lìa khỏi đất mẹ, nhắc nhở ta biết cúi đầu trước tổ tiên và trân trọng cội rễ của chính mình.

Hội tàn. Người nghệ nhân bỏ chiếc dùi xuống, lau giọt mồ hôi, trở về làm một lão nông hiền lành nơi góc xóm. Nhưng dư âm của tiếng trống dường như vẫn lẩn khuất vào lớp rêu trên mái ngói âm dương, lặng lẽ thanh lọc những bụi bặm trần ai trong cõi lòng người.