Thưa những tâm hồn nặng lòng với hồn thiêng sông núi nước Nam ta!

Nếu có dịp xuôi dặm dài miền Trung đầy nắng gió, ngược dòng Lam giang cuộn sóng mênh mang, quý vị hãy một lần dừng chân lại nơi bến Bạch Ngọc. Dừng để làm gì? Để tĩnh tâm mà lắng nghe tiếng vọng ngàn năm của lịch sử, để chiêm bái một tuyệt tích tâm linh mà bách tính châu Hoan bao đời nay đã suy tôn là một trong tứ đại linh từ.

Khuôn viên đền Quả Sơn - di tích lịch sử, văn hóa gắn với tên tuổi Uy Minh Vương Lý Nhật Quang bên dòng sông Lam

Chao ôi! Đền Quả Sơn uy nghi, tĩnh tại, phơi sương tắm nắng ngót nghét cả ngàn năm nay. Nơi ấy đọng lại của cả một thời kỳ lịch sử oai hùng, là nơi phụng thờ một vóc dáng lẫm liệt, một nhân cách chói lọi của vương triều nhà Lý: Đức thánh Uy Minh Vương Lý Nhật Quang.

Lý Nhật Quang là hoàng tử thứ tám của đức Thái Tổ Lý Công Uẩn - đấng minh quân đã khai sinh ra vương triều Lý. Vương tôn hoàng tộc chốn lầu son gác tía dễ dàng chọn lấy một cuộc sống vinh hoa phú quý. Nhưng không! Vị "Bát lang Hoàng tử" này lại mang trong mình một khát vọng kinh bang tế thế, một trái tim đập cùng nhịp đập của non sông.

Năm Kỷ Mão (1039), chàng thanh niên vương tộc dấn bước vào cõi Hoan Châu để coi việc thu thuế mễ. Đến năm 1041 thì được bổ nhiệm làm Tri châu. Phải hình dung bối cảnh lúc bấy giờ. Xứ Nghệ thuở ấy dẫu là phên dậu trọng yếu của quốc gia Đại Việt, nhưng vẫn là chốn "viễn châu" lam sơn chướng khí, đất mỏng người thưa. Giao phó Hoan Châu cho Lý Nhật Quang, triều đình Thăng Long đã trao cả vận mệnh của mặt Nam quốc gia vào tay vị hoàng tử trẻ. Lịch sử chứng minh đó là một quyết định sáng suốt!

Triều Lý là một vương triều mang tinh thần từ bi của đạo Phật. Lý Nhật Quang đã mang theo cái tâm ấy đi về phương Nam. Ngài đến vùng biên viễn đầy nắng gió này không phải để cai trị, mà là để cúi xuống.

Tượng thờ Uy Minh Vương Lý Nhật Quang trang nghiêm tại đền Quả Sơn, nơi nhân dân xứ Nghệ tưởng nhớ công lao vị danh tướng có nhiều đóng góp cho vùng đất Hoan Châu xưa

Vâng, ngài đã cúi xuống. Từ bi đâu phải là chắp tay tọa thiền trước đài sen mây trắng. Từ bi, với vị vương tử Lý Nhật Quang, là đôi chân xắn lội xuống bùn lầy. Là cúi xuống để nhổ rễ cọng cỏ dại, dạy dân cày cấy, ươm tơ dệt lụa, làm muối, đun sành. Cúi xuống để đo đạc đất đai, đào kênh đắp đê, mở mang bến chợ. Ngài nhìn những phận người xứ này không phải bằng ánh mắt của kẻ bề trên ban ơn cho đám thảo dân, mà bằng đôi mắt của một người cha thấy con mình chịu đói khổ mà lòng quặn đau. Ngài đã “Nghệ hóa” chính mình.

Trong 16 năm ròng rã làm quan nơi biên viễn, ngài lập ra 52 châu, 22 trại, 56 sách. Ngài thu phục thành công các bộ tộc thiểu số, đưa họ hòa vào đời sống chính trị xã hội Đại Việt, là bài học vô giá về đoàn kết dân tộc. Ngài triển khai mạnh mẽ chính sách ngụ binh ư nông, chứng minh tính đúng đắn trong việc xây dựng một quốc gia hùng mạnh dựa trên chiến lược tự cường về kinh tế và quân sự. Từ một vùng đất hoang vu, sỏi đá, Lý Nhật Quang đã biến châu Hoan thành một vựa lúa trù phú, một cứ địa hậu cần khổng lồ cho khát vọng mang gươm đi mở cõi. Ánh sáng văn hóa từ châu thổ sông Hồng đã được vị vương tử họ Lý ấy đem gieo mầm và làm rực rỡ cả một dải Lam Hồng! Thế cơ mà! Bảo sao triều đình không nể trọng mà thăng cho tước Uy Minh Vương (năm 1044)! Bảo sao dân không phục, nước không mạnh cho được!

Toàn cảnh nghi lễ lộn quân trong Lễ hội Đền Quả Sơn

Có một chữ rất đẹp trong tước hiệu của ngài: Uy Minh. “Uy” là cái oai phong của người nắm giữ quyền thế. Chữ “Uy” của ngài được thắp sáng bởi chữ “Minh” - sự sáng ngời của trí tuệ và lòng vị tha. Cái uy của ngài là cái uy của đạo đức. Uy mà không bạo, Minh mà không kiêu. Ngài không bắt dân phải sợ mình, ngài làm cho dân thương yêu mình.

Người xứ Nghệ vốn dĩ can trường, bộc trực. Họ không bao giờ chịu khom lưng uốn gối trước cường quyền bạo tàn. Nhưng lại sẵn sàng quỳ gối trước ân tình ân nghĩa. Mà ân nghĩa thì bất diệt.

Người xưa có câu "Sinh vi tướng, tử vi thần". Năm Đinh Dậu (1057), khi con tằm đã rút cạn những sợi tơ vàng cho non nước, Uy Minh Vương trút hơi thở cuối cùng, hiển thánh ngay dưới chân núi Quả. Chữ "Quả" nghe mộc mạc mà sâu xa triết lý làm sao! Đã gieo nhân lành thì ắt đơm hoa kết trái. Khắp cõi Hoan Châu sụt sùi đứt ruột. Yêu dân dân lập đền thờ. Người dân lập đền thờ ngài ngay trên lỵ sở cũ. Ngôi đền ấy không chỉ được làm bằng gỗ, bằng ngói âm dương, mà được xây đắp lên bằng tầng tầng lớp lớp trầm tích của lòng tri ân sâu nặng.

Lễ rước bộ

"Đức Thánh Quả" trở thành vị thần chủ của cả một vùng văn hóa lớn dọc sông Lam. Tín ngưỡng này mạnh mẽ đến mức khắp hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đã hình thành hàng chục ngôi đền thờ, nhưng đền Quả Sơn vẫn luôn được coi là ngôi đền gốc, linh thiêng nhất. 

Dưới thời nhà Trần, trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược phương Bắc và bình định biên giới phương nam, các vị vua như Trần Thái Tông và Trần Anh Tông đều đã đến cầu đảo và nhận được sự phù hộ của Đức Thánh Quả Sơn. Uy Minh Vương đã trở thành một biểu tượng của sức mạnh bảo quốc hộ dân.

Hôm nay, bước chân qua Tam quan đền Quả Sơn nhuốm màu phong sương tuế nguyệt, ta mới thấy tiền nhân chọn đất tinh tế nhường nào. Lưng đền tựa núi Quả vững chãi như quả ấn ngọc, mặt hướng ra dòng Lam giang cuộn chảy vỗ về. Đền Quả Sơn trải qua bao bão giông, binh lửa, dẫu có lúc hưng lúc phế, nhưng cái "khí thần", cái "uy linh" vẫn ngưng tụ, hiển hiện.

Lễ rước thủy

Sức sống Đền Quả Sơn không chỉ nằm ở những công trình vật chất. Hãy một lần về đây vào dịp từ 18 đến 20 tháng Giêng âm lịch, để hòa mình vào Lễ hội đền. Ôi chao! Cờ xí rợp trời, chiêng trống vang vọng cả một khúc sông. Màn rước kiệu khổng lồ bằng cả đường thủy lẫn đường bộ đưa thần tượng Uy Minh Vương xuôi ngược dòng Lam lên chùa Bà Bụt để tạ ơn bà Tiên đã hiển linh âm phù giúp ngài đánh giặc năm xưa. Đó đâu chỉ là hội hè! Một vị Thần quyền uy tột bậc, một bậc hoàng thân quốc thích lại mang lọng cờ đi cúi đầu tạ ơn một vị bồ tát, tạ ơn Nhân dân. Đó là một vệt trầm tích văn hóa vô tiền khoáng hậu, là pho sử bằng hành động tuyệt mỹ về đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" thâm thúy của người Việt ta!

Lịch sử không bao giờ là những dòng chữ vô hồn nằm im lìm trong thư tịch. Lịch sử là nhịp đập của quá khứ đang bừng lên trong hiện tại. Vương triều Lý rực rỡ nay chỉ còn là những trang vàng quốc sử. Nhưng, vóc dáng của Uy Minh Vương Lý Nhật Quang và ngôi đền Quả Sơn thì vẫn đang hòa nhịp đập cùng thời cuộc. Bởi lẽ, một con người khi biết gác lại vinh hoa, đau nỗi đau của dân, lo cái lo của nước, thì Nhân dân sẽ tự nguyện tạc tượng ông vào một thứ vật liệu vĩnh cửu nhất: Đó chính là Lòng Dân!

Xin được chắp tay, cúi đầu cẩn cáo trước anh linh Đức Thánh Uy Minh Vương! Và xin mượn làn khói trầm hương thơm ngát cuộn bay nơi Đền Quả, để thắp lên trong trái tim mỗi chúng ta một niềm tự hào bất diệt về hào khí Đại Việt - một hào khí kiêu hãnh ngàn năm, vạn đại trường tồn!