Khu di tích lưu niệm Phan Bội Châu tại huyện Nam Đàn là di tích quốc gia đặc biệt, được Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng vào năm 2016. Khu di tích gồm 2 cụm: Cụm di tích quê nội làng Đan Nhiệm (nay là xóm 2, xã Xuân Hòa) và Cụm di tích quê ngoại làng Sa Nam (nay ở thị trấn Nam Đàn)

Khu lưu niệm cụ Phan giờ được tu bổ khang trang, nhưng cái làm tôi bùi ngùi dừng chân lâu nhất vẫn là hai nếp nhà tranh vách đất lợp rạ dựng từ năm 1860 của cụ thân sinh. Nó mộc mạc, tuềnh toàng y như đời sống của một ông đồ Nghệ bần hàn. Giữa sân là hàng cau, bụi chè mạn hảo, dây trầu không xanh mướt. Nhìn chiếc án thư sứt sẹo, cối giã gạo, nong tằm, tôi trộm nghĩ: lịch sử lạ thật, đôi khi những luồng cuồng phong chấn động cả càn khôn lại được thai nghén từ chính những không gian chật hẹp, sực mùi bùn non và rơm rạ thế này.

Khuôn viên Di tích quốc gia đặc biệt Khu lưu niệm Phan Bội Châu

Lịch sử và sách vở thường nhắc về cụ Phan bằng những ngôn từ rung trời chuyển đất. Người đời vinh danh cụ là bậc "anh hùng thiên sứ", là ngọn núi lửa cuồn cuộn nhiệt huyết, là tiếng sấm sét đánh thức cả một cõi Á Đông đang ngái ngủ. Cụ là hiện thân trọn vẹn của chữ "Động". Cả một kiếp người, cụ đi, cụ chạy, bôn ba từ Đông sang Tây, gõ cửa từ Nhật Bản đến Xiêm La, từ Hương Cảng đến Quảng Châu. Tiếng thét "Đông Du" của cụ từng làm rúng động cả một bộ máy bạo quyền thực dân.

Vậy mà, nơi thai nghén nên ngọn núi lửa ấy lại mang dáng vẻ hiền lành, bần hàn đến rưng rưng. Lão Tử nói: "Tĩnh là chúa tể của động". Khởi thủy của cơn cuồng phong lịch sử lại bắt rễ từ sự tĩnh tại tuyệt đối của mảnh vườn quê này.

Hai căn nhà tranh tái hiện lại nơi cụ Phan Văn Phổ - thân sinh cụ Phan Bội Châu dựng vào năm 1860. Nơi đây Phan Bội Châu tên khai sinh Phan Văn San cất tiếng khóc chào đời ngày 26/12/1867.

Cụ Phan, tên thật là Phan Văn San, dân ta cứ gọi thân thương là cụ Giải San vì cụ đỗ Giải nguyên trường thi Nghệ An năm Canh Tý (1900). Với sự uyên bác ấy, nếu xuôi theo dòng chảy cử nghiệp, cụ thừa sức kiếm cái lọng che đầu, áo mão xênh xang. Nhưng cụ không chịu "sống mòn". Cụ vứt toẹt cái hư danh. Đêm trước lúc rẽ sóng xuất dương tìm đường cứu nước, dứt áo khỏi Đan Nhiễm quê nhà, cụ để lại khúc "Xuất dương lưu biệt":

"Làm trai phải lạ ở trên đời,

Há để càn khôn tự chuyển dời.

Trong khoảng trăm năm cần có tớ,

Sau này muôn thuở, há không ai?"

Cái chí "phải lạ" ấy không phải thói ngông của kẻ bất đắc chí, mà là sự tự ý thức tột độ của bậc trượng phu đứng trước vận nước suy vi. Đôi bàn chân Giao Chỉ mang dép cỏ của cụ đã lênh đênh từ bến đò Sa Nam sang tận Phù Tang (Nhật Bản), bôn ba khắp Trung Hoa, dạt sang cả Xiêm La. Cụ chắt chiu từng đồng lập Duy Tân Hội, xướng xuất phong trào Đông Du, dẫn dắt hàng trăm thanh niên rường cột cắt túm tóc củ tỏi, mặc âu phục, vượt biển cầu Âu học Á. Khi Đông Du bị thực dân Pháp và Nhật bắt tay dập tắt, cụ lại bươn chải lập Việt Nam Quang Phục Hội.

Phối cảnh “Nam Đàn Tứ Hổ” (Phan Bội Châu, Nguyễn Sinh Sắc, Vương Thúc Quý, Trần Văn Lương)

Nhưng cái vĩ đại nhất của Sào Nam tử chính là năng lượng sáng tạo. Vũ khí sắc bén nhất của cụ không phải gươm súng, mà là ngọn bút dầm trong huyết lệ. Cụ viết bạo liệt, viết như vắt kiệt mình. Những "Hải ngoại huyết thư", "Á Tế Á ca" hay "Việt Nam vong quốc sử" truyền về nước chẳng khác nào kèn xung trận. Thi pháp của cụ Phan mượn rất nhiều từ dân gian. Cụ dùng nhịp điệu ca trù, hát nói, ca dao, vè để gọi hồn nước. Có lúc văn cụ cất lên như tiếng thét, giục giã đám đông đang ngủ mê man:

"Dậy! Dậy! Dậy!

Bên án một tiếng gà vừa gáy,

Chim trên cây liền ngỏ ý chào mừng...

... Mở mắt thấy rõ ràng tân vận hội,

Xúm vai vào xốc vác cựu giang san."

(Bài ca chúc Tết thanh niên - 1927)

Tiếng gà gáy trong thơ cụ đâu phải tiếng gà lãng mạn nơi thôn dã, mà là tiếng gà thức tỉnh cõi mộng mị. Đọc thơ cụ, nghe dào dạt cái âm hưởng xót xa mà quật cường của điệu ví giặm ven bờ sông Lam. Nó đi thẳng vào lục phủ ngũ tạng của anh thợ cày, thợ cấy, cho đến tầng lớp sĩ phu.

Ở gian giữa nhà trưng bày là bức tượng của Phan Bội Châu, phía trên khắc dòng chữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Phan Bội Châu là bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập dân tộc, được hai mươi triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng".

Đến năm 1925, cụ bị thực dân Pháp bắt cóc ở Thượng Hải, định bí mật khép án tử. Nhưng trước làn sóng phẫn nộ của cả một dân tộc, chúng đành nhượng bộ, đưa cụ về an trí ở Huế. Trở thành "Ông già Bến Ngự", dẫu bị bẻ gãy cánh, cụ vẫn mở toang cửa đón thanh niên đến đàm đạo, gieo mầm ái quốc. Cụ thẳng thắn chỉ trích cái thói ươn hèn vong nô bằng khẩu khí đanh thép, chua xót:

"Sống tủi làm chi đứng chật trời!

Sống nhìn thế giới hổ chăng ai?

Sống làm nô lệ cho người khiến,

Sống chịu ngu si để chúng cười!"

(Sống)

Bước ra ngoài hiên, một luồng gió khẽ lướt qua rặng tre ngà gieo xuống những tiếng xạc xào êm ái. Một chiếc lá chao nghiêng rồi nhẹ bẫng chạm mặt sân gạch. Không có bi lụy, chỉ có lẽ tuần hoàn tự nhiên của trời đất. Nhìn chiếc lá rụng, tôi bỗng nhớ đến bút hiệu của cụ: Sào Nam. "Việt điểu sào nam chi" - con chim nước Việt dẫu có bay mỏi cánh ngàn dặm phương xa, rốt cuộc vẫn chỉ quay đầu, cất tiếng hót và thiết tha làm tổ ở cành hướng Nam.

Bản án mà thực dân Pháp kết tội cụ Phan Bội Châu 25/7/1908. Năm 1924 cụ Phan tiếp tục bị thực dân Pháp bắt cóc tại Trung Quốc đem về nước quản thúc tại Huế

Cụ từ tạ mái tranh nghèo này cất bước ra đi. Cụ bôn ba tìm mặt trời tự do ở xứ người, nhưng thực ra là mong mang ánh sáng ấy về thắp lại mặt trời trong chính lồng ngực quê hương. Ba mươi năm dâu bể góc biển chân trời, rồi mười lăm năm nếm trải kiếp "Ông già Bến Ngự" bị giam lỏng nơi dốc Nam Giao, cánh chim bằng ấy chưa từng được cất bước về lại mảnh vườn này. Nhắm mắt xuôi tay bên bờ sông Hương, phong trào dở dang, mộng lớn chưa thành. Người ta rớt nước mắt tiếc thương cho một khúc bi ca.

Nhưng nếu nhìn bằng con mắt thiền quán, Phan Bội Châu đã đi một vòng tròn sinh diệt vô cùng viên mãn. Đó là sự viên mãn của chữ Tâm. Khi một trái tim mang tâm Bồ Tát, thấy chúng sinh thống khổ mà phát đại nguyện dấn thân không màng sướng khổ, thì cái Tâm ấy đã đắc đạo rồi. Mọi thị phi, thành bại, được mất của thế gian rốt cuộc đều rơi rụng. Như chiếc lá khô kia. Hồn cụ, tôi tin, chẳng vướng bận điều gì dưới chân núi Ngự. Hồn cụ đã nương theo đám mây trắng thong dong bay về đây, tan vào làn khói lam chiều, vương trên mùi hương hoa cau tịnh khiết ngoài hiên nhà.

Khép lại cánh cổng di tích, vương vãi dưới chân tôi là vạt nắng chiều Nam Đàn vàng ươm. Một thứ nắng thanh lương, buông xả. Đi thăm viếng một vĩ nhân, rốt cuộc lại là một chuyến đi gột rửa tâm hồn, để lòng mình được trở về nương náu. Nước non ngàn dặm, lịch sử ba đào, hóa ra, vẫn thu mình nằm gọn, vĩnh cửu và ấm áp trong một bóng nắng đang mỉm cười trên hiên tranh cố hương.