1735543332674_pd_676f4f9c1ef6c-2.jpg
Mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Ảnh: VIB

Trong văn bản này, VCCI cho rằng, rào cản với doanh nghiệp hiện nay không nằm ở việc thiếu luật, mà chủ yếu ở chất lượng quy định, sự chồng chéo giữa các luật và khâu thực thi. Khẳng định doanh nghiệp cần một hệ thống pháp luật rõ ràng, ổn định, được áp dụng thống nhất và có thể dự đoán, VCCI đưa ra nhiều đề xuất đáng chú ý.

Ổn định chính sách để giảm chi phí tuân thủ

Trước hết, để giải quyết tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn giữa các luật, Bộ Tư pháp cần chủ trì rà soát hệ thống pháp luật theo chuỗi hoạt động kinh doanh - từ thành lập, đầu tư, xây dựng, sản xuất, xuất nhập khẩu đến giải thể - thay vì rà soát theo từng luật riêng lẻ.

Bởi thực tế cho thấy, vấn đề không chỉ nằm ở từng đạo luật, mà chủ yếu phát sinh tại điểm giao thoa giữa các luật. Chẳng hạn, để triển khai một dự án đầu tư, doanh nghiệp phải thực hiện đồng thời nhiều thủ tục theo Luật Đầu tư, Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Bảo vệ môi trường… Trong nhiều trường hợp, các thủ tục này lại yêu cầu lẫn nhau làm điều kiện tiên quyết, tạo thành vòng lặp, khiến doanh nghiệp lúng túng. Nếu không xử lý các điểm chồng chéo này, việc sửa đổi từng luật riêng lẻ sẽ khó mang lại hiệu quả thực chất.

Bên cạnh đó có tình trạng cùng một quy định nhưng được hiểu và áp dụng khác nhau giữa các địa phương. Khi đó, doanh nghiệp không chỉ phải tuân thủ quy định, mà còn phải “thích nghi” với cách hiểu riêng của từng địa phương. Điều này vừa làm tăng chi phí tuân thủ, vừa tạo ra bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp, tiềm ẩn nguy cơ phân mảnh thị trường nội địa.

Trước thực trạng này, VCCI kiến nghị bổ sung nguyên tắc “thống nhất thị trường quốc gia” như một giới hạn của phân cấp. Theo đó, chính quyền địa phương không được ban hành các quy định gây cản trở lưu thông hàng hóa, dịch vụ, lao động và vốn giữa các địa phương. Bộ Tư pháp cần tăng cường kiểm tra, rà soát các văn bản quy phạm pháp luật của địa phương, kiến nghị đình chỉ hoặc bãi bỏ nhanh các quy định trái pháp luật hoặc gây cản trở hoạt động kinh doanh. Đồng thời, cần xây dựng cơ sở dữ liệu công khai về cách áp dụng pháp luật tại từng địa phương trong các lĩnh vực trọng yếu, giúp doanh nghiệp có thể tra cứu và so sánh.

Một lo ngại khác của doanh nghiệp là tình trạng pháp luật thay đổi quá nhanh và thiếu thời gian chuyển tiếp. Theo VCCI, doanh nghiệp không thể lập kế hoạch 5-10 năm nếu không biết quy định pháp luật sẽ thay đổi như thế nào trong 1-2 năm tới. Do đó, đơn vị này kiến nghị quy định thời gian chuyển tiếp tối thiểu từ 12 đến 24 tháng đối với các thay đổi pháp luật ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh, trừ trường hợp khẩn cấp. Với các dự án đầu tư lớn, cần áp dụng điều khoản ổn định đầu tư, cam kết không áp dụng hồi tố các thay đổi bất lợi về thuế hoặc ưu đãi trong một khoảng thời gian nhất định.

VCCI cũng đề xuất phân tách hệ thống pháp luật thành hai tầng: tầng ổn định với các nguyên tắc nền tảng như quyền tài sản, tự do kinh doanh, tự do hợp đồng; và tầng linh hoạt với các quy định kỹ thuật có thể điều chỉnh theo thực tiễn.

Đề xuất tổng rà soát “giấy phép con”

Theo phản ánh của doanh nghiệp, chủ trương chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm đã được nêu nhiều năm, nhưng nhiều ngành vẫn duy trì cơ chế “xin - cho” dưới các hình thức khác nhau như: giấy phép con, chứng nhận đủ điều kiện, ý kiến chấp thuận, văn bản xác nhận. Như vậy, tuy tên gọi thay đổi nhưng bản chất tiền kiểm vẫn còn. Đồng thời, khi chuyển sang hậu kiểm, năng lực thanh tra, kiểm tra chưa theo kịp, dẫn đến tình trạng hoặc buông lỏng hoàn toàn, hoặc thanh tra, kiểm tra tràn lan, chồng chéo, gây phiền hà cho doanh nghiệp.

Trước thực tế này, VCCI kiến nghị tiến hành tổng rà soát thực chất tất cả các loại giấy phép, điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính còn tồn tại, trong đó đánh giá từng loại xem có thực sự cần thiết không, có thể thay thế bằng hậu kiểm không, và chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp là bao nhiêu.

Tổ chức này cũng đề xuất áp dụng nguyên tắc “one-in, one-out”, theo đó mỗi điều kiện kinh doanh mới ban hành phải đi kèm với việc bãi bỏ ít nhất một điều kiện cũ có mức độ gánh nặng tương đương. Mô hình này đã được áp dụng tại Anh, Đức, Hàn Quốc và mang lại hiệu quả trong giảm chi phí tuân thủ.

Ngoài ra, VCCI cho rằng, việc đánh giá tác động chính sách (RIA) hiện nay phần lớn mang tính hình thức, thiếu dữ liệu định lượng, và thường được thực hiện bởi chính cơ quan soạn thảo, tạo ra xung đột lợi ích rõ ràng. Doanh nghiệp ít khi được tham vấn thực chất trong quá trình đánh giá tác động. Vì vậy, tổ chức này kiến nghị bắt buộc lượng hóa chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp trong mọi đề xuất chính sách mới: mỗi dự thảo văn bản quy phạm pháp luật phải trả lời được câu hỏi là doanh nghiệp sẽ phải bỏ ra bao nhiêu thời gian và chi phí để tuân thủ quy định này. Việc thẩm định chất lượng đánh giá tác động cần được giao cho một đơn vị độc lập, không phải cơ quan soạn thảo.