Đứa trẻ sinh ra ở mảnh đất này, chưa kịp biết mặt chữ đã biết phân biệt tiếng búa "chát" nách nhè nhẹ của thợ học việc với tiếng búa "cụp" đầm, trần nề, gõ đâu dính đó của mấy ông thợ già. Tiếng búa ấy vang qua mười mấy thế hệ, trôi qua bao nhiêu bận dâu bể, gọt giũa cái chất cày sâu bừa bẫy của miền đất này, để rồi đọng lại thành một vệt lửa thiêng chưa từng lụi tắt.

Đền thờ Thánh tổ nghề rèn Cao Lỗ tại Nho Lâm

Người đời hay bảo dân xứ Nghệ gàn gàn, cứng cỏi, cái nếp nghĩ sắt đá như cục quặng thô ngoài vạt núi. Cái chất sắt ấy để người Nghệ dùng để trụ lại với đời. Ở Nho Lâm, cái chất sắt đó không chịu giấu mình trong lòng núi nữa. Nó nhảy vào lò rèn, chịu nung rực dưới ngọn lửa hồng, để những bàn tay chai sạn nặn nó thành hình, thành dáng, thành hơi thở của làng quê.

Bộc bạch về Nho Lâm, người ta hay nghĩ đến huyền thoại về những mỏ quặng sắt ngàn năm, về những chuyến hàng tiến cống hay vũ khí giữ cõi giữ làng. Nhưng nếu ghé vào một căn lò rèn giữa ngày hè oi nồng, mới thấy hết cái tình người ta gửi gắm vào thứ kim loại vô hồn. Căn lò nhỏ bám đầy bồ hóng, đen thui như vạt áo thợ. Chiếc ống thổi khí kêu khè khè như lồng ngực người già hen suyễn nhưng dai sức. Trong cái góc tối um ấy, ngọn lửa rực lên màu da cam gắt gỏng, rồi chuyển sang màu đỏ ửng ngọt ngào khi cục sắt đã "chín". Người thợ rèn đứng đó, ngực trần, lưng trần, mồ hôi chảy thành từng vệt ngoằn ngoèo trên nước da màu mật đắng.

Tượng tướng Cao Lỗ tại di tích nhà thờ họ Cao tại làng Nho Lâm

Họ ít nói lắm. Mấy câu chuyện xóm giềng, chuyện ruộng đồng cứ bị tiếng búa quật xuống đe nuốt chửng. Chỉ có đôi mắt là rực sáng, phản chiếu lại cái quầng sáng thiêng liêng của than lửa. Nhìn thợ rèn Nho Lâm làm việc, thấy họ như đang chơi một điệu nhạc rock dữ dội mà dịu dàng. Quặng thô hay sắt vụn ban đầu vốn vô hình vô dạng, gồ ghề. Muốn nó thành hình, thợ phải đập. Đập không phải để phá hủy, mà là nhẫn nại uốn nắn. Cú giáng của chiếc búa lớn hạ xuống trước, dứt khoát như thử thách của số phận, bắt cục sắt phải mềm ra, phải nhượng bộ. Rồi chiếc búa nhỏ trên tay người thợ chính gõ gõ lóc cóc theo sau, tỉ mẩn, dịu dàng như lời vỗ về, sửa sang từng góc cạnh.

Bằng xác lập kỷ lục Việt Nam về làng có nghề rèn sắt lâu đời nhất tại xã Diễn Thọ (cũ)

Có nhìn cảnh hai cha con ông thợ già đứng đối diện nhau qua mặt đe mới thấy cái nhịp điệu tuyệt vời của sự tiếp nối. Tiếng búa cha đi trước đầm chắc, chỉ lối. Tiếng búa con nhịp nhàng theo sau, lắng nghe và tiếp nhận. Cứ thế, ngọn lửa nghề không cần truyền qua những lời giáo huấn, mà thẩm thấu qua từng giọt mồ hôi rơi tềnh tệch xuống nền đất xám, qua nhịp thở gấp gáp đồng điệu giữa hai thế hệ.

Mỗi cái cuốc, cái dao, cái lưỡi cày chui ra từ lò rèn Nho Lâm để đi tắm bùn. Chúng bám vào lòng đất, cày xới những thửa ruộng nứt nẻ, gặt những vạt lúa trĩu bông dưới cái nắng thiêu đốt. Cái lưỡi cày rèn thủ công ở đây có một cái lề đường kỳ lạ: nó "ngọt". Đặt xuống đất là ăn sâu, chạm vào sỏi đá không sứt không mẻ. Lạ đời, cái thứ sắt đá tưởng như lạnh lùng ấy, qua tay người thợ rèn Nho Lâm, lại mang một thứ tình cảm đằm thắm với ruộng đồng. Nó xới đất lên để gieo mầm sống, nó đồng hành với người nông dân từ rạng đông cho tới khi mặt trời lặn gác núi. Cái lưỡi cày ăn vào bùn mật, bùn mật lại mài giũa cho lưỡi cày thêm sáng bóng. Sự gắn bó ấy bền chặt đến mức người ta cảm tưởng như chiếc cày, chiếc cuốc cũng có linh hồn, cũng mang cái nếp chịu thương chịu khó của người dân miền Trung.

Bây giờ, thời đại chạy nhanh như một cơn gió lốc. Người ta chuộng đồ máy, chuộng những con dao dập bằng xưởng công nghiệp láng bóng, vuông chằm chặp, giá rẻ rề. Mấy lò rèn ở Nho Lâm vắng dần tiếng ống thổi. Nhiều căn nhà lò ngắt lửa, nhường chỗ cho những mảng tường gạch hoa phẳng lì và tiếng xe máy giòn tan ngoài ngõ. Lớp trẻ đi làm xa, đến những thành phố hoa lệ, bỏ lại những chiếc đe sắt nằm im lìm phủ bụi thời gian. Có người thở dài bảo cái nghề này chắc rồi cũng tuyệt chủng, như ngọn lửa tàn rụi khi hết than.

Lò rèn Nho Lâm (Ảnh trong sách Le vieux An Tĩnh của H.Le Breton)      Ảnh: AI đã phục chế, tô màu

Nhưng nếu chịu khó đi sâu vào những ngõ nhỏ ở Nho Lâm, bước qua những vạt nắng quánh lại vì khói than củi, ta vẫn gặp những ông già gầy guộc ngồi bên bập bùng bếp lửa. Mắt họ đã mờ, tai đã nghễnh ngãng vì mấy mươi năm hứng chịu tiếng đe va đập, nhưng đôi bàn tay cầm búa thì vẫn chuẩn xác tới từng milimet. Họ rèn không phải chỉ vì vài đồng bạc lẻ kiếm được từ cái dao xắt rau hay cái liềm cắt cỏ của bà con trong xóm. Họ rèn vì cái thói quen đã ăn sâu vào máu thịt. Ngày nào không ngửi thấy mùi sắt nung ngất ngây, không nghe tiếng "chát cụp" rộn ràng, là thấy lòng mình nguội lạnh và trống hoác.

Các công cụ nghề rèn hiện nay chủ yếu phục vụ nhu cầu sửa chữa, mài dũa trong gia đình. 

Người Nho Lâm giữ lửa không phải bằng sự kêu ca hay hoài niệm ồn ào. Họ giữ lửa bằng cái gan góc riêng có của người xứ Nghệ. Như cây thông trên núi Hồng Lĩnh, càng gió bão càng cắm sâu rễ vào đá. Cái chất "sắt đá" của người Nghệ không hề xơ cứng hay vô cảm. Nó là cái gan góc để vượt qua gian khó, là cái chung thủy trước sau như một với mảnh đất nghèo. Vệt lửa ngàn năm ở Nho Lâm chưa bao giờ tắt hẳn, bởi nó không chỉ cháy bằng than củi, mà cháy bằng cái tình của người thợ rèn dành cho xóm làng, dành cho những bàn tay cày cấy cần lao.

Một người trẻ làm nghề rèn tại làng Nho Lâm

Đêm về trên làng cổ Nho Lâm, khi cái ngột ngạt của buổi trưa đã dịu lại trong làn gió biển thổi vào từ Diễn Châu, tiếng búa rèn thi thoảng vẫn vang lên từ một căn bếp. Tiếng gõ lóc cóc, thong thả rơi vào hư không, nghe như tiếng tim đập nhịp nhàng của đất mẹ. Vệt lửa lóe lên từ lòng lò rèn quăng ra những tia sáng li ti như muôn ngàn ngôi sao nhỏ, rơi xuống mặt đất mù sương rồi biến mất. Và người ta biết, chừng nào người thợ Nho Lâm còn nặng lòng với nghề, chừng nào những sản phẩm rèn thủ công còn có chỗ đứng trong đời sống, thì ngọn lửa nghề vẫn còn cơ hội được gìn giữ, tiếng búa vẫn có thể ngân vang, lặng lẽ mà bền bỉ với đất và người.