Vậy mà ghé lại Kẻ Gám, ngó người làng này sống, tự dưng thấy lòng chùng xuống một nỗi ngơ ngác, rồi thương thắt ruột. Cái làng có tên chữ đẹp như một nét vẽ - Hạnh Tảo - nay thuộc xã Quan Thành, tỉnh Nghệ An, là nơi người ta đem trọn cái nhọc nhằn của kiếp làm người gửi gắm vào những lớp tuồng xưa.

Câu lạc bộ Tuồng Kẻ Gám chuẩn bị cho buổi diễn tập

"Nhất Kẻ Gám, nhì Đô Đặng”. Đô Đặng bên Đô Lương cũng lừng danh, nhưng Kẻ Gám bao giờ cũng đứng ở vị trí đặc biệt trong lòng người xứ Nghệ. Mấy cụ già trong họ Nguyễn Năng, họ Chu, họ Hoàng kể rằng, cái máu tuồng ngấm vô đất này ngót nghét cũng hai, ba trăm năm có lẻ. Từ thời Lê mạt qua triều Nguyễn, mấy ông lính thú đi dẹp giặc hay những nho sĩ trôi dạt từ đất Thăng Long, kinh thành Huế trở về, gia tài mang theo chẳng có vàng bạc, chỉ có mấy cuốn kịch bản tuồng pho chép tay bằng chữ Nôm gói kỹ trong mấy lớp mo cau. Đem về làng, cất vào bồ lúa, rồi tối tối đem ra chong đèn dầu mà truyền cho con cháu. Cứ thế, dòng họ này giữ lấy vai này, dòng họ kia ôm lấy vai nọ, máu tuồng chảy rầm rì trong huyết quản như mạch nước ngầm dưới lòng đất cằn.

Những “nghệ sĩ chân đất” hóa thân sống động trong những vai tuồng

Người xứ khác gọi tuồng Kẻ Gám là "tuồng đất nung", hay thứ tuồng của đám "đào kép chân đất". Nghe vừa mộc mạc, vừa xót xa. Ban ngày, họ cũng là những lão nông mặc áo tơi lá cắp cày ra đồng, những bà mẹ bầm tím đôi tay vì ngâm nước cấy lúa, móng chân nứt nẻ ăn sâu vào phèn chua đến đóng thành từng vệt đen sì. Nhưng hễ làng có đám hội, hay đêm rằm tế lễ rước sắc, tiếng trống cất lên giữa sân đình thì phép lạ trần gian bắt đầu.

Mấy ông lão vừa buông tay cày, lội vội xuống mương rửa sạch bùn đất, bước lên manh chiếu cói trải giáp mí giữa sân đình. Họ ngồi chồm hổm bôi son, dặm phấn vụn, kẻ những đường mày xếch ngược lên bằng nhọ nồi. Phấn son của làng quê rẻ tiền, quánh lại trên những gương mặt chằng chịt nếp nhăn của nỗi lo cơm áo. Đạo cụ chẳng có gì sang trọng. Gươm đao thì tự tay đẽo bằng gỗ mít hay cành xoan vườn nhà, mài cho nhẵn rồi phết chút sơn đỏ giả làm máu. Râu ria thì đi xin từng túm lông đuôi ngựa, không có thì chẻ xơ bẹ dừa khô đem chải cho tơi, nhuộm đen bằng vỏ cây. Áo mãng, áo giáp đính kim tuyến lấp lánh cũng là do bàn tay những người đàn bà trong làng thức thâu đêm bên ngọn đèn hạt đỗ mà may vá. Ấy vậy mà hễ khoác lên mình, cầm ngọn cờ lệnh xoay một vòng mã bộ, đôi mắt họ bỗng quắc lên, sáng rực. Người nông dân biến mất, nhường chỗ cho những đấng trung quân ái quốc, những kẻ dám sống chết vì một lẽ phải ở đời.

Người Kẻ Gám mê tuồng pho, mê những tấn trò đời cuồn cuộn sóng gió như Lưu Bình Dương Lễ, Tiếng Trống Mê Linh, Lục Vân Tiên… nhưng ám ảnh nhất vẫn là Sơn Hậu. Cái khúc Khương Linh Tá bị chém đứt đầu, nghe giọng Nghệ cất lên, chẳng cần âm nhạc mà nó nặng trịch, nó gân guốc như tiếng đá va vào nhau giữa lòng suối cạn:

“Đầu rơi huyết chảy quản bao thân. Nguyện thấu cao minh tấc dạ thành. Ngọn đuốc soi đường qua hiểm đạo. Kim Lân, hãy gượng bước ruổi rong!”

Khương Linh Tá chết rồi nhưng cái tấc lòng trong sạch thì không chịu chết. Hồn ông hiện về, không phải để oán hờn, mà để nâng một ngọn đèn soi đường cho Đổng Kim Lân ẵm ấu chúa chạy qua đèo lửa. Người Kẻ Gám xem tới khúc này, từ đứa con nít cho tới ông già tóc bạc đều nín thở, nước mắt rịn ra quanh khóe mắt cay sè. Một ông kép già ngó mông lung ra bờ tre trước ngõ, buông một tiếng thở dài sườn sượt: "Sống ở đời cực mấy cũng chịu được, chỉ sợ nhất là tối tăm không thấy đường ngay nẻo chánh mà đi. Khương Linh Tá chết rồi còn cầm đèn soi cho bạn, người làng Gám coi đó mà sống cho trọn cái nghĩa, dẫu có nghèo rớt mồng tơi cũng không dám làm điều xằng bậy."

Tuồng Kẻ Gám một thuở

Cái triết lý của tuồng quê nó nằm ngay ở chỗ đó. Đâu cần sách vở cao siêu, người ta học làm người tử tế từ cái chết đẹp đẽ của một nhân vật trên manh chiếu rách.

Nhưng tuồng Kẻ Gám không chỉ có chuyện đao to búa lớn của đàn ông. Nó còn có cái góc khuất của phận đàn bà, một nỗi đau thắt ruột thắt gan qua vở Hồ Nguyệt Cô hóa cáo. Làng Gám ngày xưa kén người đóng vai Nguyệt Cô ngặt nghèo lắm, bởi lớp diễn này không khéo thì thành trò cười, mà diễn tới nơi tới chốn thì người xem đứt từng khúc ruột. Một con cáo tu luyện nghìn năm trốn khỏi rừng sâu chỉ vì thèm được làm người, thèm được yêu một lần cho biết mùi vị nhân gian. Nàng trao trọn trái tim, trao luôn viên ngọc quý giữ mạng cho gã Tiết Giao tráo trở. Để rồi khi ngọc mất, tình tan, da thịt người biến dần thành lốt dã thú.

“Trời hỡi trời! Lòng người tráo trở khôn lường. Rút ruột trao tình, người nỡ cướp ngọc ta đi! Ngọc mất rồi, thân này run rẩy, Mặt hoa đâu nữa, lông lá mọc đầy... Tiết Giao ơi, hỡi Tiết Giao! Ta tiếc ngọc một, mà ta đau tình tới mười!”

Mỗi bận cô đào trong làng quằn quại, ngã lăn trên mặt chiếu, móng tay cào cấu xuống đất như muốn bấu víu lại chút nhân hình cuối cùng, những người đàn bà Kẻ Gám ngồi dưới cứ kéo vạt áo lên lau nước mắt. Họ khóc cho Nguyệt Cô hay đang khóc cho chính những trớ trêu của kiếp đàn bà xứ này? Những người phụ nữ còng lưng cả đời vì chồng vì con, trao hết ruột gan mà đôi khi nhận về chỉ toàn cay đắng lận đận.

Những người phụ nữ Kẻ Gám có thể tìm thấy trong bi kịch của Nguyệt Cô một phần nỗi niềm về tình yêu, sự hy sinh và những trớ trêu của phận người.

Tiếng thét xé lòng của Nguyệt Cô hòa vào tiếng kèn bóp ai oán của gánh tuồng làng, dội vào vách đình, nghe nẫu ruột nẫu gan như một lời trăng trối.

Chiều tà buông chầm chậm trên mái đình Hạnh Tảo. Gió thổi qua những kẽ ngói vỡ nghe ràn rạt như tiếng thở dài của dĩ vãng. Làng bây giờ vắng tanh, người trẻ dắt díu nhau đi làm ăn xa xứ. Kẻ nam tiến làm công nhân, người đi Hàn, đi Nhật bán sức mưu sinh. Mấy đứa con nít bây giờ dán mắt vô màn hình điện thoại, chẳng còn đứa nào thèm bẻ cành xoan giả làm gươm đao, hay bôi vôi lên mặt bắt chước vai Tạ Ôn Đình như thuở trước. Những chiếc rương sơn then đựng áo mãng, râu giả nằm buồn bã trong góc nhà thờ họ Nguyễn Năng, họ Chu.

Câu lạc bộ Tuồng Kẻ Gám vinh dự nhận Giải thưởng Đào Tấn lần thứ 15

Ông kép già dẫn tôi ra đứng giữa sân đình trơ trọi gạch rêu. Ông đứng lặng hồi lâu, bóng ông đổ dài trên nền đất xám xịt, gầy guộc như một thân phi lao cằn. Tôi hỏi ông có buồn không khi mai này những pho tuồng cổ rồi sẽ trôi tuột đi như nước qua cầu, ông cười, nụ cười méo xệch hằn lên những nếp nhăn nhọc nhằn:

"Buồn chứ. Nhưng tôi nghĩ, cái gì thật tình thì nó ở lại lâu lắm. Người Kẻ Gám có thể chết đi, manh chiếu đình có thể mục nát, nhưng cái hồn tuồng nó đã ngấm vô đất này rồi. Chừng nào người ta còn biết giận kẻ phản trắc, còn biết rơi nước mắt vì một kẻ chịu chết thay cho bạn mình, thì cái chất tuồng đó vẫn còn sống ngầm đâu đó, trong từng hạt lúa củ khoai..."

Gió xứ Nghệ lại nổi lên, cuộn những chiếc lá khô xào xạc bay qua thềm đình vắng. Tự dưng tôi thấy thương cái làng này quá đỗi. Thương những con người cả đời lội dưới bùn đen mà lòng lúc nào cũng ngước lên trời cao, thương những đêm hội làng rực lửa đóm nứa của một thời đã khuất. Có lẽ, những đào kép chân đất làng Kẻ Gám chưa bao giờ coi tuồng là một cuộc hóa trang mua vui rẻ rúng. Họ hát, họ khóc, họ sống chết trên chiếu đình chỉ để nhắc với nhau rằng: giữa cõi trần ai này, giữ được một tấm lòng son, giữ được một ngọn đèn soi đường cho người khác như Khương Linh Tá, dẫu có đứt đầu mất mạng, âu cũng là một kiếp người không uổng phí.