Chiếc nồi không chỉ đi từ sân nhà ra chợ, mà còn đi theo những chuyến xe thồ vượt khỏi lũy tre làng, vào bếp của những gia đình xa quê, vào những quán ăn, nhà hàng cần một thứ dụng cụ nấu nướng mang theo hương vị của đất. Từ ngày 1/7/2025, Trù Sơn cũ đã cùng Đại Sơn, Hiến Sơn và Mỹ Sơn hợp thành xã Bạch Hà; nhưng tên gọi Trù Sơn, làng Nồi, vẫn còn nguyên sức gợi, bởi đó là tên của một không gian văn hóa được tạo nên từ đất, lửa và bàn tay người thợ. Theo truyền thuyết dân gian địa phương, nghề làm nồi đất ở đây có từ thời nhà Trần.

Làng "nồi đất" nhìn từ trên cao

Chuyện kể rằng khi Bạch Hoa công chúa theo đoàn xa giá kinh lý qua vùng Đất Đỏ xứ Nghệ, thấy đất đai bạc màu, dân tình đói khổ không đủ lúa ăn, bà đã xót thương dừng lại dạy dân cách phân biệt tầng đất sét, nhào nặn thành niêu vò rồi chất bổi nung lửa để đổi lấy gạo. Trải qua bao biến thiên lịch sử, người làng Trù Sơn vẫn giữ tục thờ phụng tổ nghề, xem chiếc nồi đất là ân huệ của tiền nhân để lại cho vùng đất nghèo. Điều đáng quý là trong câu chuyện truyền nghề ấy, người Trù Sơn không chỉ truyền cho nhau một cách làm ra sản phẩm, mà truyền cả một nếp sống. Người già chỉ cho người trẻ cách nhận đất, cách nhồi cho đất đủ độ dẻo, cách miết thành thân nồi, cách sửa miệng, sửa đáy; người làm lâu năm nhìn màu đất, độ khô của nồi và cả hướng gió mà biết lúc nào có thể đốt. Vì thế, mỗi chiếc nồi tuy cùng một kiểu dáng nhưng hiếm khi giống hệt nhau. Cái “hồn” của nồi Trù Sơn nằm chính ở những dấu vết thủ công ấy: không hoàn toàn tròn đều, không bóng bẩy, không che giấu những chỗ chưa thật hoàn hảo, nhưng lại có cái duyên mộc mạc của một sản phẩm được làm ra bằng bàn tay và kinh nghiệm sống của con người.

Hàng trăm năm trôi qua, làng Trù Sơn vẫn luôn giữ được nguyên vẹn những nét cơ bản nhất của gốm cổ: Được làm thủ công, không men tráng và hoàn toàn không có dấu hiệu của nghệ thuật trang trí

Về xứ này, chỉ cần hít một hơi khói rơm ngai ngái lẫn mùi đất nung sực lên sống mũi là biết mình đã lạc vào cõi của những điều xưa cũ. Giờ đây, đất làm nồi không còn có sẵn dưới chân, người làng phải lặn lội sang tận miệt Nghi Văn (Nghi Lộc) và Sơn Thành (Yên Thành) gánh từng tảng sét đỏ dẻo quánh mang về, nhào ủ kỹ như ủ một niềm hy vọng. Nhìn các bà, các chị Trù Sơn làm gốm, những nhà nghiên cứu văn hóa trầm trồ gọi đó là "hóa thạch sống" của kỹ nghệ gốm cổ sơ, nhưng với người làng, đó chỉ là cái nết mưu sinh nhọc nhằn truyền đời. Ở đây tuyệt nhiên không có bóng dáng bàn xoay cơ giới. Người thợ đặt thớ đất lên chiếc cối đá thấp tè, tay cầm miếng giẻ ướt ("miếng khăm") miết miết, còn đôi chân trần thì cứ lầm lũi đi thụt lùi từng vòng quanh khối đất. Lấy chính thân xác mình làm trục quay vũ trụ, đi mòn gót giật lùi cả một đời người chỉ mong nặn cho vuông tròn cái miệng nồi, cái đáy om. Nhìn cái dáng người xoay tròn quanh thớ đất, tự dưng thấy đời thợ cũng nhẫn nại và thắt thẻo y như chiếc niêu đất chưa qua lửa, chực vỡ tan nếu một lần lỡ tay va quệt. Bước lùi của đôi chân nhẫn nại ấy dường như đã níu giữ lại trọn vẹn diện mạo của nghề gốm tự thuở hồng hoang. Nghề ấy cực nhọc đến mức người xưa gọi là “bán xương, nuôi thịt”. Sản phẩm vừa nặn xong chưa thể đem bán mà còn phải phơi, gọt sửa, hong cho khô và chờ một mẻ lửa thích hợp. Trong toàn bộ chuỗi công việc ấy, phụ nữ là lực lượng giữ vai trò chủ đạo. Họ không chỉ nặn nồi mà còn gọt sửa, nhóm lửa, canh lò, ra sản phẩm; còn đàn ông thường đảm nhận những phần việc nặng như vận chuyển đất, vận chuyển nồi và đưa hàng đi tiêu thụ. Bởi vậy, nhìn vào một chiếc nồi đất Trù Sơn cũng có thể nhìn thấy bóng dáng của những người phụ nữ đã âm thầm giữ nghề qua nhiều thế hệ.

Đất sét làm nồi Trù Sơn được chọn lọc kỹ lưỡng và sẽ được người thợ dùng đôi tay, bàn chân nhào, giẫm đất cho nhuyễn, loại bỏ từng viên sạn nhỏ trước khi tạo hình

Đến cả ngọn lửa nung ở Trù Sơn cũng hoang sơ đến lạ lùng. Người ta xếp hàng trăm chiếc nồi đất mộc úp bụng vào nhau trần trụi giữa bãi đất trống. Gom hết đống lá bổi, lá thông khô cào từ trên rú đồi về phủ kín lên trên, rồi châm lửa đốt lộ thiên 4 đến 5 giờ đồng hồ. Lửa trần đỏ rực liếm láp vào da thịt của đất giữa gió đồng lồng lộng, nung chín những giọt mồ hôi rơi thầm trong kẽ nứt, thiêu đi lớp nước cuối cùng để da đất chuyển sang màu đỏ gạch, vương vãi những vệt muội than lem luốc mà ấm sực. Đốt nồi tưởng như chỉ là một thao tác cuối cùng, nhưng thực ra đó là lúc người thợ đặt toàn bộ kinh nghiệm của mình vào một canh bạc với lửa. Lửa non thì nồi chưa chín, lửa già hoặc thiếu kinh nghiệm thì sản phẩm dễ nứt, vỡ; trời mưa, độ ẩm cao cũng có thể làm đảo lộn cả một mẻ hàng. Bởi vậy, người làm nghề lâu năm không chỉ “đốt nồi”, mà còn biết “đọc” lửa: nhìn màu khói, nghe tiếng củi cháy, quan sát tốc độ bén lửa để điều chỉnh cách phủ bổi, cách xếp nồi và thời gian nung. Chính những tri thức dân gian không được ghi thành sách ấy mới là phần tài sản vô hình quý giá nhất của làng nghề. Bây giờ thiên hạ chuộng đồ nhôm, đồ inox sáng loáng cho kịp những vội vã đời thường. Ít ai còn kiên nhẫn đợi một chiếc nồi đất sôi lục bục trên bếp củi. Vậy mà người Trù Sơn vẫn cặm cụi nắn đất, như sợ mai này lỡ mất đi cái mùi cá đồng kho mật mía, hay vị thuốc bắc sắc cạn còn vương khói ấm. Chiếc nồi đất mỏng mảnh ấy gánh trên lưng cái nếp sống biết chắt chiu, biết giữ lửa của một vùng quê cằn cỗi.

Các công đoạn đều được làm hoàn toàn bẳng thủ công nên đòi hỏi sự khéo léo, kiên trì và tỉ mỉ cao

Có một nghịch lý đáng suy ngẫm: chính lúc chiếc nồi đất tưởng như bị đẩy ra bên lề bởi nhôm, inox, điện và những thiết bị bếp hiện đại, thì giá trị riêng của nó lại bắt đầu được nhận ra. Những món kho cá, kho thịt, cơm niêu hay một số món ăn truyền thống khi được nấu trong nồi đất vẫn có sức hấp dẫn riêng; nhiều nhà hàng, quán ăn tìm đến Trù Sơn không chỉ để mua một vật dụng mà còn để tìm một câu chuyện về nguồn gốc món ăn, về sự mộc mạc của ẩm thực Việt. Sản phẩm vì thế cũng không còn bó hẹp trong chiếc nồi nấu cơm ngày trước mà được mở rộng thêm nhiều kích cỡ, loại hình phục vụ nhu cầu ẩm thực, sắc thuốc, trang trí và đời sống. Năm 2022, theo Báo Nghệ An ghi nhận còn khoảng 60 hộ còn theo nghề; đến năm 2026, theo thông tin từ địa phương được Báo Nghệ An phản ánh, toàn xã Bạch Hà chỉ còn hơn 20 hộ duy trì nghề. Con số ấy cho thấy sức sống của làng nghề vẫn còn, nhưng ngọn lửa ấy đã mỏng đi rất nhiều.

Gốm sau khi phơi nắng sẽ được đem đi nung, đây là công đoạn quan trọng quyết định chất lượng của nồi đất Trù Sơn

***

Chiều buông trên bãi đất Trù Sơn, khói bảng lảng trôi qua ngọn tre già. Ngồi ngó người làng xếp từng chồng niêu đỏ au lên xe thồ chở đi muôn ngả, thấy thương cái kiếp đất cũng như kiếp người nơi đây: phải qua lửa đỏ mới mong thành hình cứng cáp. Để rồi cả đời chỉ ước được nằm khiêm nhường bên góc bếp, giữ giùm người ta một chút hơi ấm thuở bao giờ! Bởi vậy, “đi lùi” ở Trù Sơn không có nghĩa là quay lưng với hiện đại. Đó là bước lùi của đôi chân để đôi tay có thêm thời gian làm nên một sản phẩm; là sự chậm lại cần thiết giữa một thế giới ngày càng chạy nhanh; là cách người ta cúi xuống nhặt lại một mảnh ký ức tưởng đã rơi bên vệ đường. Có những thứ chỉ khi mất đi người ta mới biết quý. Với Trù Sơn, giữ được nghề nồi đất hôm nay cũng là giữ lại một phần ký ức của căn bếp Việt, một phần văn hóa lao động của người Nghệ và một cách ứng xử rất đẹp với đất đai quê hương: lấy từ đất một sản phẩm vừa đủ, dùng bằng sự chắt chiu, rồi trả lại cho đất câu chuyện của nhiều thế hệ.

Chính nét mộc mạc, giản đơn đã làm nên nét đẹp truyền thống riêng biệt của nồi đất Trù Sơn

Nếu một ngày nào đó du khách đến Bạch Hà không chỉ để mua một chiếc nồi, mà còn được bước vào sân nhà người thợ, tự tay nhào một nắm đất, thử đi giật lùi quanh bàn xoay, ngồi nhìn lửa đỏ suốt một mẻ nung và mang về chiếc nồi do chính mình làm ra, thì khi ấy làng nghề sẽ có thêm một sinh kế mới từ chính ký ức cũ. Nồi đất Trù Sơn có thể trở thành một điểm nhấn của du lịch cộng đồng, một “bảo tàng sống” về nghề thủ công, nơi du khách không chỉ nhìn thấy sản phẩm mà chạm được vào cả quá trình tạo nên sản phẩm. Việc gắn nghề với du lịch, trải nghiệm, thương mại điện tử, chuyển đổi số và câu chuyện văn hóa địa phương sẽ giúp chiếc nồi đất đi xa hơn mà không cần phải đánh đổi bản sắc vốn có. Đáng mừng là giữa lúc tưởng chừng nghề chỉ còn là câu chuyện của những người đã ở tuổi xế chiều, Trù Sơn lại xuất hiện những tín hiệu mới. Một số người trẻ bắt đầu nghĩ khác về chiếc nồi đất: không chỉ giữ nguyên cách làm cũ mà còn tìm cách cải tiến dụng cụ, máy móc ở những khâu phù hợp, nâng chất lượng sản phẩm, mở rộng mẫu mã và đưa sản phẩm đến khách hàng qua những phương thức bán hàng mới. Đây có lẽ mới là cách “giữ nghề” bền vững: không đóng khung nghề truyền thống trong bảo tồn hoài niệm, mà để nghề có thể sống được bằng chính giá trị kinh tế và văn hóa của nó.