Người đời thường vịnh những giấc mộng ấy như một tiếng thở dài trước sự hư vô của danh lợi: vinh hoa tột bậc rồi cũng trả về mây khói, cát bụi lại hoàn cát bụi. Nhưng có những giấc mộng không bắt đầu từ công danh, phú quý, mà từ một nỗi niềm với non sông. Giấc mộng ấy có thể dang dở cùng một đời người, nhưng điều nó gửi lại cho lịch sử thì không vì thế mà mất đi.

Đền thờ vua Quang Trung nằm trên núi Dũng Quyết.

Ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (1788), Nguyễn Huệ tế cờ lên ngôi Hoàng đế tại núi Bân, dẫn thủy bộ đại binh cấp tốc hành quân ra Bắc đánh đuổi quân Mãn Thanh xâm lược. Đến cõi Hoan Châu, đoàn quân hạ trại dưới chân núi Dũng Quyết, thuộc đất Yên Trường. Giữa chốn quân doanh bên bờ sông Lam, Hoàng đế lập tức hạ lệnh triệu La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp từ núi Bùi Phong về trướng phủ. Ngài chỉ tay lên bản đồ trận thế, cất giọng hỏi vị ẩn sĩ:

- Nay quân giặc sang chiếm giữ thành Thăng Long, ta đem quân cự chiến, thế cuộc được thua ra sao?

Nguyễn Thiếp chắp tay, điềm tĩnh đáp:

- Chúa công khởi binh lần này, quân đi thần tốc, nội trong mười ngày ắt giặc tan.

Hoàng đế vỗ án ưng ý, lập tức phát lệnh tuyển thêm một vạn tráng đinh đất Nghệ An sung vào quân ngũ. Tiếng trống duyệt quân dội vang bãi bồi Lam giang, cờ đào phất phới chỉnh tề hàng lối trước khi toàn quân tiến thẳng ra Bắc. Trong lồng ngực người anh hùng áo vải khi ấy cuộn trào một giấc mộng lớn lao:

“Đánh cho để dài tóc

Đánh cho để đen răng

Đánh cho nó chích luân bất phản

Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn

Đánh cho sử tri nam quốc anh hùng chi hữu chủ”.

Giấc mộng ấy khởi đi từ việc gìn giữ cái căn cước mộc mạc nhất của tổ tiên, của giống nòi trước họa đồng hóa. Đó là một tuyên ngôn về văn hóa trước khi là một chiến lược quân sự.

Đền thờ vua Quang Trung nằm trong quần thể di tích Phượng Hoàng Trung Đô. 

Dẹp yên ngoại xâm, đứng trước bàn cờ thống nhất giang sơn, Hoàng đế Quang Trung hiểu rõ Thăng Long dẫu là đất ngàn năm văn hiến nhưng sĩ phu Bắc Hà lòng còn tưởng vọng nhà Lê, khó bề an định. Phú Xuân hiểm hẹp xa xôi, không thể giữ thế quân bình hai miền Nam - Bắc. Ngài quay về đất Yên Trường, chỉ tay lên núi Dũng Quyết mà định việc lớn. Dựng Phượng Hoàng Trung Đô tại đây là giấc mơ thực hiện trọn vẹn tinh thần “Nước Nam anh hùng muôn đời có chủ”. Đất này là cố hương của tổ tiên dòng họ Hồ, lại nằm vào thế hiểm: hướng về dãy Hồng Lĩnh, dựa vào thế núi Dũng Quyết và lấy sông Lam làm hào sâu tự nhiên, tả hữu có hình rồng chầu hổ phục.

Đặt kinh đô ở đất Yên Trường không phải là tham vọng bành trướng quyền lực, mà là cái nhìn xót xa muốn dùng chiếc đòn gánh miền Trung để gánh trọn hai đầu đất nước vốn bị chia cắt suốt mấy trăm năm, quy tụ lại lòng người. Ngài mời La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp cùng Trấn thủ Nghệ An Nguyễn Văn Thận xem xét địa thế, lựa chọn nơi dựng kinh đô, mong dựng nên một cõi thái bình nơi loài chim phượng hoàng thiêng liêng chịu dừng cánh đậu.

Trước đền là nghi môn tứ trụ 2 tầng, 8 mái bằng gỗ lim kiểu chồng diêm.

Thế nhưng, lịch sử muôn đời vẫn là một chuỗi của những định mệnh vô thường. Nồi kê vàng của vương triều Tây Sơn chưa kịp chín, lầu Tiền Triều mới vừa gác mái, lũy thành chưa khép vòng, thì người dệt mộng đã đột ngột băng hà ở tuổi bốn mươi. Giấc mộng đế đô khép lại giữa chừng, để lại trên đỉnh Dũng Quyết một khoảng trống mênh mông của nghẹn ngào và hoài niệm. Người đời sau nhìn vào thành lũy hoang phế dễ buông lời tiếc nuối cho một cơ nghiệp dở dang. Nhưng kỳ thực, có những sự dang dở mang tầm vóc thiêng liêng hơn cả những công trình viên mãn. Cung vàng điện ngọc dẫu nguy nga rồi cũng có ngày sụp đổ trước thời gian, chỉ có khát vọng độc lập và phẩm giá giống nòi là ở lại vĩnh viễn với non sông.

Tượng thần hộ pháp bên trong đền thờ. Ảnh: Phạm Tâm 

Hành hương lên đền Hoàng đế Quang Trung là một cuộc ngược dòng ký ức qua 81 bậc đá tượng trưng cho cửu cửu quy nhất giữa bạt ngàn thông reo. Cổng Tam quan mở ra khoảng sân rộng lát đá xanh Hải Lăng, dẫn lối vào hai nhà bia đối xứng. Nhà bia bên trái đặt chiếc trống da lớn cùng bia khắc ghi công trạng Hoàng đế Quang Trung, điểm lại những mốc son trong sự nghiệp của vị anh hùng dân tộc. Bên phải đặt quả chuông lớn, bia khắc những câu thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết về Quang Trung trích từ diễn ca Lịch sử nước ta:

“Nguyễn Huệ là kẻ phi thường

Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Thanh

Tự mình làm tướng cầm binh

Dập dồn giặc dữ một mình đánh tan”

Việc chọn khắc những dòng thơ này của Bác mang ý nghĩa tư tưởng lớn. Năm 1942, giữa lúc vận nước còn nằm dưới ách đô hộ của thực dân - phát xít, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc lại hình tượng Nguyễn Huệ như một biểu tượng lớn cho tinh thần quật cường, tự lực tự cường và nghệ thuật quân sự bách chiến bách thắng. Ngôi đền được dựng chính là sự hiện thực hóa trọn vẹn lời dặn “Đền ơn tiên liệt rạng danh giống nòi” của Người.

Toàn bộ hạ điện, trung điện, thượng điện là trung tâm của ngôi đền, được thiết kế theo hình chữ Tam. Những bức đại tự nơi đây như những nét chấm phá cô đọng về quê hương và sự nghiệp của Hoàng đế Quang Trung. Hạ điện có bức đại tự “Nghệ dục Bình sinh”. Nghệ An là quê cha đất tổ. Bình định là nơi sinh ra và lớn lên. Trung điện có bức đại tự “Nhất nhung đại định” nghĩa là đánh một trận lớn mà bình định được cả thiên hạ.

Thành Phượng Hoàng Trung Đô nhìn từ trên cao (Ảnh tư liệu chụp năm 1930) và lược đồ (bên trái)

Đi qua tòa Tiền tế năm gian bằng gỗ lim uy nghiêm, bước vào chốn Hậu cung thâm nghiêm ngát mùi trầm, chúng ta cúi đầu trước pho tượng Hoàng đế Quang Trung bằng đồng nguyên chất nặng hơn một tấn. Ngài ngự trên ngai, mình vận hoàng bào, đầu đội mũ miện, nhưng tay phải vẫn nắm chặt đốc gươm lệnh, mắt hướng thẳng về phía biển Đông. Khí phách của người từng thề đánh cho kẻ thù "phiến giáp bất hoàn" vẫn hiển hiện nguyên vẹn trong ánh mắt ấy. Đứng trước tiền nhân, ta chợt hiểu rằng phượng hoàng chưa từng bay đi. Giấc mộng Phượng Hoàng Trung Đô dẫu chưa thành hình hài gạch đá, nhưng đã hóa thành linh khí bất diệt thấm sâu vào lòng đất xứ Nghệ. Đôi khi, điều làm nên sự vĩ đại của một con người không phải là việc đã đi đến tận cùng của giấc mộng hay chưa, mà là giấc mộng ấy đã thắp sáng linh hồn của cả một dân tộc đến mức nào.

Từ sân đền phóng tầm mắt ra bốn bề, dòng sông Lam vẫn miệt mài chở nặng phù sa qua chân núi Quyết, xa xa dãy Hồng Lĩnh chìm nổi giữa màn sương. Những dấu tích thành xưa của Phượng Hoàng Trung Đô dù đã bị thời gian phủ lấp nhưng cái gốc văn hóa "để dài tóc, để đen răng" mà ngài quyết tâm bảo vệ thì đã thấm sâu vào máu thịt của muôn đời con cháu nước Nam. Đền thờ trên đỉnh Dũng Quyết vì thế không chỉ là nơi tưởng niệm một danh tướng bách chiến bách thắng, mà là đài tưởng niệm cho ý chí quật cường của một dân tộc quyết không chịu khuất phục đồng hóa, đời đời khẳng định quyền làm chủ giang sơn.