Thế nhưng, khi ghé bến Võ Liệt, dừng chân trước ngôi đền cổ u tịch đứng hàng thứ ba trong câu ca “Nhất Cờn, nhì Quả, tam Bạch Mã, tứ Chiêu Trưng”, tôi lại bắt gặp một câu chuyện hoàn toàn khác. Người ta dựng đền thờ Phan Đà, một danh tướng lẫy lừng của phong trào Lam Sơn, nhưng trải qua hơn năm trăm năm dâu bể, dân gian không gọi nơi ấy là đền Tướng quân, cũng chẳng gọi là đền Phan Đà. Họ chỉ gọi một danh xưng trinh bạch thuần khiết: Đền Bạch Mã.
Vì sao lại là một con ngựa trắng?
Có lẽ trước hết là vì sự thấu cảm của lòng người đối với chữ "Húy". Người xưa tế nhị biết bao. Khi một người con máu thịt của làng ngã xuống vì nghĩa lớn và được hoàng triều nhà Hậu Lê phong tặng danh hiệu “Đô Thiên Đại Đế Bạch Mã Thượng Đẳng Phúc Thần”, người dân quê không gọi thẳng tên thật trần thế của người anh hùng đã hóa thần hiển thánh. Họ mượn hai chữ “Bạch Mã” trong sắc phong của vua làm tên gọi cho ngôi đền. Bằng cách đó, họ cất cái tên phàm trần vào nơi sâu kín nhất của lòng kính cẩn, để người anh hùng rũ bỏ mọi danh xưng cá nhân mà hòa tan vào cõi thiêng liêng vô tận.
Nhưng nếu chỉ có thế, sự tích chắc chưa đủ làm thổn thức những thế hệ ngắm bóng chiều rơi trên bến sông. Trong tâm thức bình dân, danh tướng Phan Đà và con ngựa trắng không phải là hai sinh mệnh tách rời. Họ là đôi tri kỷ giữa thời loạn lạc. Chàng trai trẻ tuổi hai mươi khoác giáp trắng, cưỡi ngựa trắng xông pha nơi hòn tên mũi đạn. Một buổi chiều định mệnh năm 1426, trong một lần trinh sát bờ bắc sông Lam, danh tướng Phan Đà bị phục kích rồi trọng thương. Con ngựa chiến phẫn uất hí vang, chở người chủ tri âm vượt qua dòng nước xiết sông Lam về lại quê nhà Võ Liệt. Ông đã trút hơi thở cuối cùng trên quê hương mình. Tương truyền, thi thể ông được đàn mối vùi đắp thành một gò lớn.
Hai mươi tư tuổi! Đó là độ tuổi đẹp nhất của đời người, khi thanh xuân còn nguyên vẹn như một buổi sớm mai. Sự hy sinh ấy bi tráng mà không u ám, bởi người xưa đã dùng màu trắng Bạch Mã để gói trọn linh hồn chàng. Màu trắng là màu của tinh khôi, của lòng trung trinh vị tha vô cầu, một màu sắc vượt thoát khỏi mọi mưu toan quyền bính trần gian. Gọi tên đền bằng tên con ngựa, há chẳng phải là một cái cúi đầu từ tâm trước sự trung nghĩa của loài vật, và là cách người đời gìn giữ vẻ đẹp thanh khiết của một tuổi xuân bất tử hay sao?
Bước vào không gian đền, cái mỹ cảm sâu lắng ấy lại hiện lên qua từng thớ gỗ. Ở tòa Hạ điện, người thợ xưa đã phủ lên khung nhà một lớp sơn son đỏ thắm, rồi dùng vệt sơn trắng đắp vẽ hình tượng rồng vờn mây. Sắc đỏ nồng nàn của trần thế ôm lấy sắc trắng thanh thoát của mây trời, như gợi lại bóng chiến bào năm xưa. Nhưng sâu sắc hơn cả, khi bước sâu vào Thượng điện, nơi thâm nghiêm nhất của chốn phụng thờ, ta lại thấy mặt tiền chạm trổ lộng lẫy với các đồ án kinh điển cá hóa rồng, long phượng ngậm cuốn thư… thì toàn bộ hệ cột và vách phía sau được các nghệ nhân "giữ mộc" hoàn toàn.
Không son thếp, không đục đẽo chạm trổ, gỗ cứ để trần như thuở còn đứng giữa rừng sâu. Người xưa phải chăng muốn nhắn nhủ rằng: cái rực rỡ bên ngoài là để đón tiếp cuộc đời ồn ã, còn khi đã bước vào tận cùng cõi tâm linh, con người ta phải trở về với sự mộc mạc nguyên sơ. Gỗ im lặng trong màu mộc, cũng như vị thần im lặng sau bức màn sương khói ngàn năm.
Bên cạnh nghệ thuật điêu khắc, nội tự còn bảo lưu những di vật tế khí vô giá. Đáng chú ý nhất là tượng chân dung tướng quân Phan Đà cùng hiện vật cỗ xôi gà tạc bằng gỗ mít sơn son thếp vàng có niên đại từ thời Hậu Lê. Đây là một cứ liệu vật chất hiếm hoi chứng minh cho việc chuẩn hóa các nghi thức dâng lễ cung đình vào không gian thờ phụng làng xã Việt Nam thời trung đại bởi đền Bạch Mã được triều đình nhà Hậu Lê liệt vào hàng “Điển lễ Quốc tế”, tức hàng tự điển do quan khâm sai đại thần của hoàng triều trực tiếp về hành lễ tế bái.
Cứ mỗi độ tháng Hai Âm lịch, khi dòng sông Rộ và sông Giăng hòa vào dòng Lam chở theo dòng nước ngọt lành để dân làng làm lễ mộc dục. Nghi lễ mở đầu bằng việc rước nước thiêng từ nơi giao thoa của ba dòng sông về nấu cùng các loại thảo mộc. Lễ vật tiến thần bắt buộc phải có mâm cá sông rán bắt từ chính dòng Lam, một chi tiết nhắc nhớ nguồn cội dân chài bần hàn của vị tướng trước khi phất cờ tụ nghĩa.
Tâm điểm của hội đền chính là trò diễn mang tính tục hèm: Vật cù. Quả cù được đẽo gọt công phu từ gốc chuối hột cổ thụ 3 - 4 năm tuổi, đường kính khoảng 30 cm, nặng 5 - 7 kg. Sau khi đẽo tròn, quả cù phải qua công đoạn luộc chín trong nước sôi rồi đem phơi nắng già để đạt độ dẻo quánh, không nứt vỡ khi va chạm mạnh. Trên bãi cát bồi phẳng ven sông, các trai đinh cởi trần đóng khố, thắt dải lưng xanh đỏ phân chia phe giằng co đưa quả cù tròn vào hố đất đối phương. Quả cù lăn trên cát như vòng quay của mặt trời, như nhịp sinh diệt của mùa màng và đời người. Trong tiếng hò reo vang động một khúc sông, dường như không ai còn bận lòng chuyện thắng bại. Họ đang sống lại ký ức luyện quân, đang tiếp nối nguồn sinh lực mà người tướng trẻ năm xưa đã trao lại cho mảnh đất này.
Đứng dưới bóng nghi môn rêu phong nhìn mây trôi qua đỉnh Giăng Màn, tôi thầm nghĩ: Có những danh xưng được người đời nhớ đến không phải bằng quyền lực, mà bằng sự trong trẻo của một tâm hồn. Đền Bạch Mã đứng đó, bình thản bên dòng nước xiết, để nhắc nhở những ai qua đây: Khi ta biết sống trọn vẹn cho tha nhân, biết hiến dâng những gì thanh khiết nhất của đời mình, thì dẫu không cần ghi tên khắc họ, hồn ta vẫn sẽ hóa thành bóng mây trắng lồng lộng, chở che cho xóm làng quê hương qua muôn dặm can qua.



