Gió xứ này lạ lùng lắm, thổi qua mé núi mé sông mà rát rạt như có ai bốc trấu khô ném vô mặt. Đất cằn trơ đá sỏi, người ta sống chắt bóp từng cọng rau, hạt lúa, tới cái tiếng thở dài cũng phải nén lại cho khỏi hao hơi. Ở cái dải đất mà người ta quen “ăn cục nói hòn”, thương nhau cũng cộc lốc mà đau đớn cũng sượng trân ấy, chẳng ai ỏn ẻn hát mấy câu ca dao mượt mà như dải lụa sồi.
Người Nghệ vốn trọng sự mộc mạc, thẳng thắn; và trong vè, những phẩm chất ấy dường như được đẩy lên thành một giọng điệu riêng. Người ta không nhất thiết phải dỗ dành nỗi khổ bằng những lời êm ái, mà có khi chọn cách nói thẳng, nói ráo, nói đến tận cùng cái điều mình chứng kiến và mang trong lòng. Bởi thế, vè xứ Nghệ nhiều khi đay đả, cộc cằn, đập vào tai chan chát như tiếng búa nện xuống đe; nhưng hễ nghe rồi, cái vị chát ấy cứ ngậm hoài nơi cuống họng, y hệt như chén nước chè xanh om đặc cắm tăm không đổ.
Sinh thời, nhà nghiên cứu Ninh Viết Giao cứ một mình cọc cạch chiếc xe đạp cà tàng đi khắp các xóm bãi, rú đồi xứ Nghệ. Ông đi lượm lặt những mảnh ruột gan người bình dân rơi rớt dọc bờ ruộng, góc chợ. Trong bộ Kho tàng vè xứ Nghệ, ông nhận định vè là “thông tấn xã miệng” của làng quê. Làng nọ có vụ trộm trâu, nhà kia có đám cưới gượng ép, quan huyện ăn tiền, hay một trận lụt cuốn phăng mùa màng... người ta chẳng buồn giấu giếm, cũng không thèm bóng gió. Cứ bốn chữ một câu, vần lưng dồn dập rượt đuổi nhau như nước lũ tràn qua bờ bao, người ta vác chuyện đời ra mà kể ráo:
“Nghe vẻ nghe ve
Nghe vè việc xóm
Lúa mùa mới đớm
Nước đã ngập bờ
Cơm không có trưa
Cháo không có tối
Mẹ con thui thủi
Ngó hạt mưa rơi…”
Đọc lên nghe trần trụi đến thắt lòng. Cái nghèo cái khổ trong vè xứ Nghệ không có chỗ cho sự lãng mạn hóa. Đói là bảo đói, rách thì nhận rách. Người ta không khóc rấm rứt sau vạt áo, mà đứng giữa trời đất chơ vơ hét toang cái nỗi cùng cực của mình ra. Tính cách người Nghệ bộc trực, khảng khái, thấy sự bất công là máu nóng bốc lên ngùn ngụt, nên vè xứ này trước hết là thứ vũ khí để trừng trị cái xấu. Thằng lý trưởng tham lam, con mụ hàng xén điêu ngoa, quan tham bòn rút của dân... tất thảy đều bị điểm mặt chỉ tên không sót một ai:
“Đêm nằm nghĩ sự trần ai
Bưng bát cơm đầy nước mắt rỏ ranh
Quan ngồi quan tính công danh
Dân đen cày cuốc nộp sưu gánh gồng…”
Vè Nghệ không ru ai ngủ, mà lay người ta dậy. Nhưng nếu vè Nghệ chỉ có châm biếm, giễu nhại và ghi chép sự đời, chắc nó không neo nổi vào lòng người ta một nỗi buồn thăm thẳm đến vậy. Cái phần làm lòng người ta bổi hổi bồi hồi nhất, lại là những bản vè kể chuyện tình duyên lỡ dở. Người ta mượn vè để than thân, để khóc cho những thân phận đàn bà bị trói chặt trong những thành trì hủ tục nghiệt ngã.
Như câu chuyện trong Vè nàng Nga hai mối. Con gái nhà lành, nhan sắc như hoa như ngọc, rốt cuộc lại biến thành món hàng cho cha mẹ đem ra đặt cược danh giá giữa hai dòng họ:
“Trời sinh ra nàng Nga
Mặt hoa da phấn
Lại vướng vào duyên phận hai nơi
Một bên thời ơn
Một bên thời nghĩa
Mẹ tham giàu gả bán
Cha ép uổng một bề
Lấy ai cho trọn câu thề
Bỏ ai cho khỏi mang tai tiếng đời…”
Nàng Nga đứng giữa hai lằn ranh, bên nào cũng là vực thẳm. Nàng không có quyền cất lên tiếng nói lựa chọn hạnh phúc cho đời mình. Quyền năng duy nhất nàng có thể tự quyết, cay đắng thay, lại là cái chết. Nàng chết để giữ trọn tấm lòng trong sạch, để trả món nợ ân nghĩa tàn nhẫn của người lớn. Giọng vè ở khúc này chùng hẳn xuống, không còn cái nhịp điệu rổn rảng thường thấy, mà thắt nghẹn như sợi dây chão siết ngang lồng ngực người nghe.
Rồi tới Vè chàng Lú nàng Ủa, một thiên tình sử vượt qua biên giới núi rừng miền Tây Thanh - Nghệ của người Thái, trôi xuôi về vùng đồng bằng sông Lam, được người Kinh dung dưỡng và nhào nặn lại bằng thể vè kể chuyện. Cái chết của Lú và Ủa không đơn thuần là sự bế tắc, mà là một cuộc đào thoát bi tráng:
“Chàng Lú ơi hỡi chàng Lú ơi!
Dưới trần gian chẳng sum vầy đôi lứa
Thiếp dứt áo lên trời tìm đất hứa
Hóa thành sao Hôm đứng đợi sao Mai
Trời cao đất rộng dặm dài
Nghìn năm ngó mặt chẳng tài nào ôm…”
Người ta thương nàng Ủa không chỉ vì nàng chung thủy, mà vì thấy cái Đẹp ở cõi đời này sao mà mong manh quá, hễ gặp định kiến tàn nhẫn là lập tức tan vỡ. Tính tự sự của vè Nghệ dường như đã chạm tới ngưỡng của bi kịch cổ điển. Nhân vật không chịu thỏa hiệp, thà hủy diệt thể xác để bảo tồn sự thanh sạch của tâm hồn.
Người Nghệ đem những câu chuyện ấy kể từ mùa gặt này sang mùa cấy khác, kể bên đống rơm sưởi ấm mùa đông buốt giá. Họ nghe mà không ai bảo ai, mắt cứ ươn ướt, lòng dạ bùi ngùi thương xót cho những mảnh đời tài hoa bạc mệnh.
Vè Nghệ là vậy đó. Không son phấn, không uốn éo làm duyên, không trốn tránh bi kịch. Nó gồ ghề như bãi đá sông Giăng, cay nồng như trái ớt chỉ thiên cắn dở. Nó không ban phát một phép màu cổ tích, không có ông Bụt hiện lên ban cho nàng Nga tấm áo mới, cũng chẳng có phép lạ nào đem Lú và Ủa về lại mái nhà chung. Nó bắt người nghe phải nhìn thẳng vào sự thật: rằng trong những nghịch cảnh nghiệt ngã, con người có khi bị dồn đến bước đường cùng, nhưng ngay cả trong tận cùng của bi kịch, khát vọng giữ gìn phẩm giá và tình yêu vẫn không bị khuất phục. Và cũng chính trong những cảnh đời nhiều mất mát ấy, tính nhân bản lại tỏa sáng rực rỡ nhất.
Rồi giữa cái thời buổi đời sống đã phẳng lì và người ta có thể gửi cho nhau muôn vàn lời ngọt ngào chỉ qua một cú chạm màn hình, tự dưng lại băn khoăn: giờ có còn cần tới mấy câu vè xứ Nghệ nữa hay không?
Người ta vẫn cần. Cần vè không phải chỉ để nghe lại tin tức xóm làng như một thứ "thông tấn xã miệng" thời cũ, mà là cần một "hạt muối xát thẳng vào vết thương" giữa lúc đời sống có không ít những vị ngọt dễ làm người ta quên đi vị đắng của sự thật. Vè xứ Nghệ chọn cách nói thẳng, nói ráo, đập vào tai chan chát để bắt con người ta phải tỉnh thức. Vè không ru người ta ngủ trong giấc mơ cổ tích, mà lay người ta dậy giữa trần ai.
Để rồi sau tất cả những đay đả, va đập ấy, người ta ngộ ra vè còn giữ lại một phần tình người sâu thẳm và kiêu hãnh: thương là ‘trút cả gan ruột mà thương’, để giữa dải đất cằn trơ đá sỏi hay giữa những giằng xé của đời sống hiện đại, con người ta vẫn biết đau, biết thương và không ngoảnh mặt trước nỗi đau của người khác.”
Có những chiều hôm, ngồi ngó ráng chiều đỏ quạch buông xuống bờ rào, lòng người lại nhớ mấy câu vè cũ. Nghe cứ dội vào lòng một nỗi xót xa nhân thế, như thể tiếng người xưa vọng lại từ cõi xa xăm, mộc mạc mà day dứt:
“Thương ai thì thương cho trót
Trút cả gan ruột mà thương
Mai sau dẫu có đôi đường
Ngậm cười chín suối cũng dường như không…”



