Cái mùi mây ngâm nước đem phơi tái nắng, quyện với mùi khói tre hun chống mối mọt, nó không thơm ngào ngạt như hoa, cũng chẳng dễ chịu như mùi mướp hương đầu ngõ, vậy mà ai từng lỡ bước qua đây cũng mang theo một vạt nhớ xè xè nằm yên dưới cánh mũi.

Ở dải đất miền Trung xói mòn vì gió Lào này, cây tre cây mây mọc lên như một lẽ tự nhiên của đất trời để che chở cho con người chung sống cùng khắc nghiệt. Nhưng người dân ở Nghi Phong, Nghi Thạch, hay bên Hưng Tiến, Hưng Châu không chỉ nấp dưới bóng tre. Họ rút từng sợi ruột tre, bóc từng cọng vỏ mây ra để đan thành miếng ăn, cái mặc, thành cái nghiệp gắn chặt qua mấy đời người.

Người già trong làng hay ngồi tựa lưng vào cột nhà, mắt nheo nheo nhìn ra khoảng sân ngập nắng rực vàng màu mây khô, rồi cười hề hề bảo: "Cái nghề này đan từ hồi tay còn bôi bẩn mặt mũi, đến chừ mắt mờ, lưng còng vẫn chưa chịu buông." Cái nghề đan lát mây tre này ngộ lắm. Nó không đòi hỏi bằng cấp, chẳng cần máy móc tinh xảo, chỉ cần một con dao bén, đôi bàn tay nhẫn nại và một tấm lòng đủ lặng để ngồi hằng giờ đồng hồ mà gài từng mối đan.

Nhìn đôi bàn tay của những người phụ nữ ở làng nghề, thấy cả một đời lam lũ hằn lên đó mà thương. Những đường vân tay bị chai xát, lằn đen vì nhựa tre, da thịt khô khốc như vỏ cây già. Tre khô thì cứng ghen, mây dại thì dai quắn, muốn chúng chịu ngoan ngoãn uốn mình thành cái lồng đèn tròn trịa, cái đĩa trái cây uốn lượn, hay cái giỏ đựng đồ tinh xảo xuất khẩu thì người đan phải trả giá bằng vô số lần đứt tay, máu ứa ra thấm đỏ cả thớ gỗ. Nhưng lạ kỳ thay, qua đôi bàn tay sần sùi ấy, từng sợi tre thanh mảnh, từng cọng mây dẻo dại lại xoắn bện vào nhau một cách nhuần nhụy đến khó tin.

Họ ngồi đan, cái lưng còng xuống như hình cánh cung gặt gió. Bóng họ ngã dài trên nền gạch đất nung. Câu chuyện của họ cứ rủ rỉ rù rì chảy qua chiều vắng, chuyện giá gạo sáng nay ngoài chợ, chuyện đứa con đi làm công nhân xa quê, chuyện nước lũ sông Lam mùa rằm tháng Bảy... Nhưng ngón tay họ thì vẫn thoăn thoắt gài mây, rút sợi. Như thể cái sự khéo léo ấy không nằm ở cọng não suy nghĩ, mà nó đã lặn sâu vào máu thịt, thành cái bản năng nuôi sống cả gia đình.

Tôi cứ nghĩ hoài về cuộc hành trình kỳ lạ của những món đồ mây tre ấy. Một chiếc khay mây hay chiếc lồng đèn tre được hoàn thành từ cái chái bếp đầy khói lem luốc ở Hưng Nguyên, được người ta lau chùi cẩn thận, đóng gói ngăn nắp vô thùng carton, rồi lên xe tải ra cảng, xuống tàu biển đi biền biệt mấy tháng trời. Nó đi qua đại dương, sang tận nước Pháp, nước Mỹ, sang những biệt thự ấm cúng ở châu Âu hay những căn hộ hiện đại ở Nhật Bản, Hàn Quốc.

Nghề mây tre đan đòi hỏi sự khéo léo. Mỗi sản phẩm đều được làm rất tỉ mỉ

Người ta ở bên kia bán cầu mua chiếc lồng đèn tre về treo ở phòng khách sang trọng, đặt cái khay mây lên chiếc bàn gỗ đắt tiền, rồi trầm trồ sao mà tinh tế, sao mà thân thiện với tự nhiên. Họ làm sao biết được, cái món đồ mỹ nghệ ấy được nhào nặn từ đôi bàn tay của một người mẹ xứ Nghệ chưa bao giờ bước chân ra khỏi ranh giới tỉnh nhà. Người mẹ ấy chưa từng đi máy bay, chưa từng biết tuyết rơi là gì, chưa bao giờ thấy tận mắt chiếc tàu container khổng lồ ngoài biển rộng.

Sự kết nối ấy sao mà thăm thẳm và mênh mông quá đỗi. Cái thứ dẻo dai mọc ra từ cồn cát nghèo khó miền Trung lại vươn tay ôm lấy những phương trời xa lạ. Cây tre, sợi mây ở Nghi Lộc, Hưng Nguyên bây giờ đâu chỉ quanh quẩn thành cái móp, cái nia, cái thúng như ngày xưa bà cháu hay bưng ra chợ huyện. Muốn đi xa, mây tre phải khoác lên mình kiểu dáng mới, hiện đại và kiêu kỳ hơn. Những chiếc đèn trang trí uốn lượn mềm mại như dải mây trời, những bộ bàn ghế mây thiết kế tối giản, những chiếc túi xách thời trang cao cấp...

Mấy ông thợ già ban đầu nhìn bản vẽ ngơ ngác: "Đan kiểu chi mà lạ đời, ngoằn ngoèo như rễ cây vậy?" Nhưng rồi cái sự nhẫn nại của người xứ Nghệ còn dẻo hơn cả sợi mây ngâm nước. Họ mày mò, uốn nắn, rồi đan được hết. Cái tính kiên cường của con người nơi đây lạ lắm, nắng tột cùng mà mưa cũng tột cùng, nên tre trúc hun đúc cái thớ thịt dai gân, và lòng người cũng đúc nên cái sự lì lợm không chịu đầu hàng.

Nhưng trong cái rộn rã của những chuyến xe tải chở hàng xuất khẩu trị giá nghìn đô, triệu đô ấy, nếu đứng lặng hồi lâu, người ta vẫn nghe thấy những khoảng lặng mênh mang. Đứng giữa sân phơi mây ngút ngàn vàng rực dưới cái nắng gắt quay gắt quắt, hình như thiếu vắng điều gì. Tụi trẻ bây giờ lớn lên, nhiều đứa chọn rời làng đi làm công nhân ở các khu công nghiệp phía Nam, chọn đi xuất khẩu lao động, để lại làng nghề cho những người già và những người phụ nữ trung niên.

Đêm đêm, dưới ánh đèn huỳnh quang sáng quắc ngoài hiên, tiếng chẻ mây vẫn vang lên đều đặn nhưng có phần đơn độc. Mấy mệ thở dài, tiếng thở dài nhẹ hều như chiếc lá tre khô rơi chạm đất: "Tre già thì tre gióng, nhưng cái nghề đan mây này mai mốt rồi ai giữ đây?" Câu hỏi buông vào khoảng trống, chạm vào bờ tre xào xạc ngoài gác bếp, nghe buồn rười rượi như tiếng thở dài của dòng sông Lam mùa nước cạn. Người trẻ đi xa để đổi đời, người già ở lại giữ lấy cái gốc làng qua từng mắt đan mây. Cọng mây thì xuất khẩu đi khắp thế giới, còn người làm ra nó thì cứ gắn chặt đời mình với khoảng sân nhỏ trước nhà.

Hiện nhiều sản phẩm mây tre đan được sử dụng để trang trí

Dẫu vậy, mỗi lần có chuyến xe container lăn bánh rời khỏi làng, người làng lại đứng tựa cửa nhìn theo với một niềm tự hào âm thầm mà sâu sắc. Những kiện hàng xếp cao ngất ngưởng mang theo mùi của nắng cháy Nghi Lộc, mùi phù sa Hưng Nguyên, mang theo cả cái hồn nhẫn nại của xứ Nghệ đi khắp năm châu. Cây tre, cây mây không chịu nằm yên trong góc vườn nhà. Nó nảy mầm thành khát vọng, thành chiếc cầu nối dải đất nghèo khó với thế giới bao la ngoài kia.

Chiều muộn, gió từ sông Lam thổi vào mát rượi, xua đi cái oi nồng của buổi hoàng hôn. Trong góc bếp đã lên khói, bóng người đàn bà vẫn cặm cụi bên đống sợi mây dẻo quánh. Đôi bàn tay gầy guộc lại thoăn thoắt uốn, gài, rút... Một vòng đan mới lại bắt đầu, lặng lẽ, nhẫn nại như chính nhịp chảy của dòng sông ngoài bãi bồi, gieo vào lòng người đi qua những niềm thương không tên nhưng sâu nặng vô cùng.