Tuy nhiên, vẫn còn khoảng cách giữa yêu cầu phát triển với năng lực nghiên cứu, khả năng hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và liên kết giữa Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp.

Kết quả giám sát chuyên đề về phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2025 - 2026 cho thấy yêu cầu đặt ra là chuyển từ tư duy “thực hiện nhiệm vụ” sang tạo ra giá trị và tác động từ kết quả nghiên cứu.

Toàn cảnh buổi làm việc của Đoàn giám sát chuyên đề “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2025 - 2026” với UBND tỉnh. Ảnh: Thành Duy

Từ chuyển biến về nhận thức đến yêu cầu tạo ra giá trị thực

Giai đoạn 2025 - 2026, Nghệ An tập trung cụ thể hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW, thành lập Ban Chỉ đạo các cấp, ban hành nhiều chương trình, kế hoạch và văn bản triển khai. Đến ngày 10/6/2026, toàn tỉnh đã ban hành 518 văn bản lãnh đạo, chỉ đạo; tổ chức 10 cuộc họp Ban Chỉ đạo tỉnh và theo dõi 271 nhiệm vụ.

Trong năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, tỉnh tổ chức 48 hội đồng tuyển chọn nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Nhiều kết quả được ứng dụng trong nông nghiệp, công nghiệp, y tế, môi trường, chuyển đổi số và phát triển sản phẩm OCOP. Chuỗi giá trị sản xuất lúa Japonica J02 đạt hiệu quả trên 8,2 tỷ đồng, chuỗi giá trị cây lạc đạt gần 8,5 tỷ đồng.

Phòng Thí nghiệm Quang phổ tại Đại học Vinh. Ảnh: TL

Điều đó cho thấy nghiên cứu gắn với nhu cầu thực tế và địa chỉ ứng dụng cụ thể có thể trực tiếp tạo giá trị.

Điểm nghẽn không nằm ở “có nghiên cứu hay không” mà ở khả năng chuyển hóa kết quả nghiên cứu

Số lượng sáng chế, giải pháp hữu ích và sản phẩm khoa học, công nghệ có giá trị cao chưa nhiều; chưa hình thành sản phẩm mang thương hiệu Nghệ An có sức cạnh tranh ở phạm vi quốc gia.

Khâu sau nghiên cứu còn hạn chế. Năm 2025, có 32 sáng chế, giải pháp hữu ích được khai thác thương mại, nhưng phần lớn do chủ sở hữu tự khai thác; thị trường chuyển giao công nghệ chưa thực sự hình thành.

Vì vậy, cần đổi mới cách đánh giá hiệu quả hoạt động khoa học, công nghệ. Một đề tài nghiệm thu đúng quy trình mới là điểm kết thúc của nhiệm vụ, chưa phải điểm kết thúc của giá trị khoa học. Giá trị thực sự được xác lập khi kết quả được ứng dụng, tạo ra công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, nâng cao năng suất, giảm chi phí, tạo việc làm hoặc đóng góp cho xã hội.

Đánh giá nhiệm vụ cần chú trọng sản phẩm đầu ra, khả năng ứng dụng, doanh nghiệp tiếp nhận, khả năng thương mại hóa và giá trị kinh tế - xã hội.

Từ “Nhà nước hỗ trợ” đến “Nhà nước kiến tạo liên kết”

Mối liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học với doanh nghiệp chưa chặt chẽ. Nhiều chương trình hợp tác chủ yếu tập trung vào đào tạo, cung ứng nhân lực; doanh nghiệp tham gia đặt hàng nghiên cứu, đồng đầu tư, thử nghiệm và tiếp nhận kết quả còn hạn chế. Các doanh nghiệp trong Khu Kinh tế Đông Nam đã có 5 chương trình hợp tác với các trường trên địa bàn tỉnh, nhưng đều là chương trình đào tạo.

Lễ ký kết hợp tác “Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp” phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tỉnh Nghệ An

Mô hình “Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp” đã bắt đầu hình thành. Tháng 6/2026, UBND tỉnh tổ chức Hội thảo phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo theo mô hình “3 nhà” và ký kết 08 thỏa thuận hợp tác giữa cơ quan quản lý, trường đại học, viện nghiên cứu, bệnh viện và doanh nghiệp.

Điều quan trọng là chuyển từ hợp tác đơn thuần sang cùng tạo ra giá trị. Doanh nghiệp cần tham gia nêu bài toán, đặt hàng nghiên cứu, cùng đầu tư, thử nghiệm và thương mại hóa; nhà trường phát huy vai trò nghiên cứu, sáng tạo và chuyển giao công nghệ; Nhà nước kiến tạo môi trường, hoàn thiện thể chế và kết nối các chủ thể.

Từ tăng chi cho khoa học, công nghệ đến cơ cấu lại nguồn lực

Một vấn đề khác cần được nhìn nhận là cơ cấu sử dụng nguồn lực.

Mặc dù tổng nguồn lực dành cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số năm 2026 tăng đáng kể, nhưng nguồn chi trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu còn thấp. Tỉnh cũng chưa thành lập được Quỹ phát triển khoa học và công nghệ địa phương, trong khi việc huy động nguồn lực xã hội cho nghiên cứu và đổi mới sáng tạo còn hạn chế.

Điều này cho thấy vấn đề không chỉ nằm ở tổng mức chi, mà còn ở cơ cấu và phương thức phân bổ nguồn lực.

Trong điều kiện nguồn ngân sách còn hạn chế, việc đầu tư cần có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên những nhiệm vụ có khả năng tạo ra công nghệ, sản phẩm mới, giải quyết các bài toán lớn của tỉnh và có khả năng huy động nguồn lực ngoài ngân sách.

Hệ thống máy gia tốc tuyến tính trong điều trị ung thư tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An. Ảnh: Mai Hoa

Kinh nghiệm từ một số đơn vị được giám sát cho thấy khả năng huy động nguồn lực xã hội hoàn toàn có thể mở rộng nếu có cơ chế và mô hình hợp tác phù hợp. Bệnh viện Ung bướu Nghệ An đang phối hợp triển khai các nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng với tổng kinh phí tài trợ dự kiến khoảng 33,4 tỷ đồng; Đại học Vinh huy động 43,313 tỷ đồng từ các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế, chương trình nghiên cứu được tài trợ và hoạt động chuyển giao tri thức, dịch vụ khoa học và công nghệ trong năm 2025.

Vấn đề đặt ra đối với tỉnh là làm thế nào để những mô hình như vậy không chỉ xuất hiện ở một vài đơn vị có năng lực, mà trở thành phương thức huy động nguồn lực phổ biến trong toàn hệ thống.

Không chỉ đầu tư cho công nghệ, cần đầu tư cho con người và dữ liệu

Đến hết năm 2025, toàn tỉnh có 5.260 nhân lực thực hiện công tác quản lý khoa học, công nghệ; tỷ lệ nhân lực đã qua đào tạo đạt 48,65%.

Tuy nhiên, nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ mới vẫn thiếu, nhất là chuyên gia công nghệ, nhà khoa học đầu ngành và nhân lực có khả năng kết nối nghiên cứu với doanh nghiệp.

Nghệ An đã xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu ngành khoa học và công nghệ với 10 phân hệ chức năng, bước đầu hình thành nền tảng dữ liệu dùng chung. Tuy nhiên, cơ sở dữ liệu chuyên ngành còn phân tán, kết nối và chia sẻ dữ liệu chưa đáp ứng yêu cầu.

Vì vậy, hạ tầng khoa học, công nghệ giai đoạn tới cần được nhìn nhận rộng hơn, gồm thiết bị, dữ liệu, nền tảng số, nhân lực và các tổ chức trung gian kết nối nghiên cứu với thị trường.

Giám sát không phải là điểm kết thúc, mà là cơ sở để hoàn thiện chính sách

Ý nghĩa của chuyên đề giám sát không chỉ ở đánh giá kết quả thực hiện mà quan trọng hơn là nhận diện điểm nghẽn để hoàn thiện chính sách. Tỉnh cần cơ cấu lại nguồn lực theo hướng tăng tỷ trọng chi trực tiếp cho nghiên cứu, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo; đổi mới phương thức xác định, tuyển chọn, đặt hàng nhiệm vụ; đánh giá bằng sản phẩm đầu ra, khả năng thương mại hóa và giá trị đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội.

Cùng với đó, cần phát triển thị trường khoa học và công nghệ, tăng cường các tổ chức trung gian và thúc đẩy liên kết Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp.

Từ “đầu tư cho khoa học” đến “đầu tư cho năng lực phát triển”

Nghệ An đã có những nền tảng quan trọng: sự lãnh đạo, chỉ đạo ngày càng rõ nét; nguồn lực được tăng cường; hạ tầng nghiên cứu từng bước được đầu tư; mô hình liên kết “3 nhà” bước đầu hình thành.

Giai đoạn tiếp theo đòi hỏi chuyển từ nhiều nhiệm vụ sang nhiệm vụ có giá trị cao; từ nhiều hoạt động sang hoạt động tạo tác động; từ hỗ trợ đơn lẻ sang hình thành hệ sinh thái; từ hợp tác mang tính hình thức sang cùng đầu tư, cùng nghiên cứu và cùng thương mại hóa.

Đầu tư cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là đầu tư cho năng lực phát triển dài hạn. Hiệu quả cần được đo bằng năng lực công nghệ của doanh nghiệp, chất lượng nguồn nhân lực, sản phẩm mới, khả năng thương mại hóa kết quả nghiên cứu, mức độ hình thành doanh nghiệp công nghệ và đóng góp vào tăng trưởng, năng suất, chất lượng cuộc sống của người dân.

Từ kết quả giám sát chuyên đề có thể thấy, Nghệ An đã bước qua giai đoạn khẳng định vai trò của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Yêu cầu của giai đoạn mới là biến nhận thức thành cơ chế, biến nguồn lực thành sản phẩm và biến kết quả nghiên cứu thành giá trị phát triển.

Đó cũng chính là thước đo để hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực mới cho Nghệ An trong chặng đường phát triển tới./.