Quang cảnh Hội thảo

***

Giai đoạn đến năm 2030 đặt ra yêu cầu phát triển mới đối với các địa phương trong bối cảnh cạnh tranh về nguồn lực, công nghệ, nhân lực chất lượng cao và khả năng tham gia chuỗi giá trị ngày càng gia tăng; chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đổi mới mô hình tăng trưởng trở thành những yếu tố tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh. Ở tầm quốc gia, yêu cầu phát triển các vùng động lực, hành lang kinh tế và cực tăng trưởng đòi hỏi các địa phương không chỉ gia tăng quy mô, mà phải nâng cao chất lượng tăng trưởng, khả năng kết nối và sức lan tỏa.

Đồng chí Cao Tiến Trung - Ủy viên Thường trực HĐND tỉnh, Trưởng Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh  tham luận nội dung “Nhận diện tiềm năng, dư địa phát triển và các đột phá chiến lược để hiện thực hóa mục tiêu đưa Nghệ An trở thành cực tăng trưởng tầm quốc gia đến năm 2030”

Đối với Nghệ An, mục tiêu trở thành cực tăng trưởng tầm quốc gia đến năm 2030 cần được đặt đồng thời trong không gian nội tỉnh, vùng Bắc Trung Bộ và mạng lưới kinh tế quốc gia. Giá trị của một cực tăng trưởng không chỉ được xác lập bởi quy mô kinh tế hay tốc độ tăng trưởng, mà quan trọng hơn là năng lực hình thành động lực mới, tổ chức và huy động hiệu quả nguồn lực, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, tăng cường liên kết và tạo tác động lan tỏa vượt ra ngoài địa giới hành chính.

Sau 40 năm đổi mới, Nghệ An đã tích lũy những nền tảng quan trọng về kinh tế, kết cấu hạ tầng, thu hút đầu tư, công nghiệp, giáo dục, y tế, văn hóa - du lịch và quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, tiềm năng chỉ trở thành động lực khi được tổ chức thành một cấu trúc phát triển có tính liên kết và cộng hưởng. Với địa bàn rộng, địa hình đa dạng (miền núi, đồng bằng, ven biển), có gần 470 km đường biên giới với Lào, 82 km bờ biển và các kết nối Đông - Tây, phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh tại Nghệ An cũng phải được đặt trong một chỉnh thể thống nhất của quá trình phát triển nhanh, bền vững.

Việc vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp từ ngày 01/7/2025 tác động mạnh mẽ làm thay đổi không gian quản trị và phương thức tổ chức phát triển. Quan hệ giữa cấp tỉnh và cấp xã trực tiếp hơn, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn về phân cấp, phân quyền, nguồn lực, dữ liệu, chất lượng đội ngũ và trách nhiệm trực tiếp. Vì vậy, năng lực quản trị cần được xem là một bộ phận cấu thành của năng lực cạnh tranh và năng lực hình thành cực tăng trưởng.

Các đại biểu tham dự Hội thảo

Trên cơ sở đó, nghiên cứu tập trung đánh giá những kết quả và nền tảng phát triển đã hình thành; nhận diện tiềm năng, dư địa, điểm nghẽn và các yêu cầu đặt ra; từ đó đề xuất các đột phá chiến lược đến năm 2030. Nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận liên ngành, đa cấp, kết hợp phân tích chính sách, tổng hợp và đối chiếu số liệu, nghiên cứu trường hợp, phân tích không gian phát triển và liên kết vùng, trên cơ sở các văn kiện, quy hoạch, chính sách và báo cáo chính thức ở cấp quốc gia, vùng và tỉnh.

1. Một số kết quả nổi bật tạo nền tảng cho việc nhận diện tiềm năng, dư địa phát triển

Nghệ An những năm gần đây duy trì nhịp tăng trưởng khá và xuất hiện động lực mới. Năm 2024, GRDP tăng 9,01%; thu ngân sách nhà nước đạt trên 25 nghìn tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu hàng hóa vượt 3,2 tỷ USD. Năm 2025, GRDP tăng 8,44%, thu ngân sách tiếp tục duy trì ở mức cao. Kết quả này cho thấy quy mô và khả năng huy động nguồn lực đã được cải thiện, tạo nền tảng để chuyển sang giai đoạn tăng trưởng đòi hỏi chất lượng cao hơn.

Điểm nổi bật là chuyển biến về thu hút FDI. Năm 2022, tổng vốn FDI cấp mới và điều chỉnh đạt 961,3 triệu USD; năm 2023 khoảng 1,6 tỷ USD; năm 2024 đạt 1,745 tỷ USD, là năm thứ ba liên tiếp Nghệ An nằm trong nhóm 10 địa phương dẫn đầu; năm 2025 đạt khoảng 1,02 tỷ USD; 6 tháng đầu năm 2026 trên 2,41 tỷ USD. Dòng vốn dịch chuyển nhiều hơn vào điện tử, thiết bị, cơ khí chính xác, vật liệu và chế biến, tạo cơ sở hình thành các cụm sản xuất mới.

Hạ tầng khu công nghiệp được mở rộng, tạo thêm khả năng hấp thụ dự án. VSIP Nghệ An 1 đã thu hút hơn 50 dự án thứ cấp, trong đó có nhiều dự án FDI;

VSIP Nghệ An 1 đã thu hút hơn 60 dự án thứ cấp, trong đó có nhiều dự án FDI

cùng WHA Industrial Zone, các khu công nghiệp Hoàng Mai và Khu kinh tế Đông Nam, bước đầu hình thành các địa bàn sản xuất tập trung. Yêu cầu tiếp theo là chuyển từ dự án riêng lẻ sang hệ sinh thái sản xuất và chuỗi cung ứng.

Các đại biểu trao đổi bên lề Hội thảo

Kết cấu hạ tầng và không gian phát triển có bước cải thiện với cao tốc Bắc - Nam, sân bay Vinh, cảng biển, các trục Đông - Tây, khu kinh tế, khu công nghiệp và mạng lưới đô thị. Văn hóa - du lịch duy trì đà tăng: năm 2024 đón khoảng 9,45 triệu lượt khách, năm 2025 khoảng 9,9 triệu lượt; 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 6,75 triệu lượt, tổng thu từ khách du lịch khoảng 20.896 tỷ đồng. Khu du lịch quốc gia Kim Liên, trên nền tảng Khu Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Kim Liên, cùng du lịch biển Cửa Lò tạo thêm dư địa phát triển dịch vụ.

Việc vận hành chính quyền địa phương hai cấp cơ bản bảo đảm tính liên tục của quản lý nhà nước và phục vụ Nhân dân. Quan hệ chỉ đạo tỉnh - xã trực tiếp hơn; cấp cơ sở có phạm vi quản lý và trách nhiệm thực thi lớn hơn. Trong bối cảnh tổ chức bộ máy thay đổi mạnh, duy trì hoạt động thông suốt, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và tiếp tục thúc đẩy phát triển cho thấy ổn định là một nguồn lực của tăng trưởng.

Các đại biểu tham dự Hội thảo chụp ảnh lưu niệm

Những kết quả trên chưa đủ để khẳng định Nghệ An đã hội tụ đầy đủ các thuộc tính của một cực tăng trưởng tầm quốc gia, nhưng cho thấy một số nền tảng mới đang hình thành: sức hút đầu tư, không gian công nghiệp, hạ tầng kết nối, văn hóa - du lịch, quy mô thị trường - nhân lực và mô hình quản trị mới. Giá trị của các nền tảng này phụ thuộc trước hết vào khả năng kết nối chúng thành năng lực phát triển tổng hợp.

2. Nhận diện tiềm năng, dư địa phát triển: lợi thế không nằm ở từng yếu tố riêng lẻ mà ở khả năng tổ chức để tạo sự cộng hưởng

Thứ nhất, quy mô và tính đa dạng của địa bàn tạo dư địa tổ chức cấu trúc phát triển nhiều vùng chức năng. Nghệ An có diện tích trên 16,4 nghìn km², hơn 80% là đồi núi, gần 470 km đường biên giới với Lào và 82 km bờ biển. Miền Tây có tiềm năng kinh tế xanh, lâm nghiệp, dược liệu, du lịch sinh thái, cửa khẩu; đồng bằng, đô thị và ven biển thuận lợi cho công nghiệp, logistics, dịch vụ, văn hóa - du lịch và kinh tế biển. Lợi thế nằm ở khả năng kết nối các không gian kinh tế, sinh thái, văn hóa, quốc phòng và an ninh thành một chỉnh thể.

Thứ hai, dư địa công nghiệp và FDI đã mở rộng, nhưng giá trị lớn hơn nằm ở giai đoạn sau thu hút: nâng giá trị gia tăng giữ lại tại địa phương, phát triển công nghiệp hỗ trợ và mạng lưới nhà cung cấp, kết nối doanh nghiệp trong tỉnh với các tập đoàn FDI, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực. Trọng tâm cần chuyển từ gia tăng số lượng dự án sang nâng cao năng lực sản xuất và mức độ tham gia chuỗi giá trị.

Thứ ba, dư địa kết nối cần được nhìn ở cả ba cấp độ: nội tỉnh, vùng và quốc gia. Khu kinh tế Đông Nam, các khu công nghiệp, cảng biển, sân bay, đô thị Vinh, các tuyến trục và cửa khẩu chỉ tạo lợi thế lớn khi vận hành như một mạng lưới thống nhất, kéo giảm chi phí logistics và kết nối với hành lang Bắc - Nam, các tuyến Đông - Tây. Ở mức độ vùng, cần tăng liên kết về công nghiệp, logistics, du lịch, y tế, giáo dục, năng lượng và lao động; ở mức độ quốc gia, cần tham gia sâu hơn vào các chuỗi sản xuất, dịch vụ và lưu chuyển hàng hóa. Năng lực liên kết và lan tỏa là tiêu chí quan trọng của một cực tăng trưởng.

Thứ tư, miền Tây Nghệ An là không gian lớn nhưng giá trị kinh tế tạo ra chưa tương xứng với tiềm năng. Rừng, đa dạng sinh học, dược liệu, nông nghiệp đặc sản, du lịch sinh thái và giao thương biên giới có thể hình thành các chuỗi kinh tế xanh. Hướng phát triển phải đồng thời bảo tồn hệ sinh thái, tạo sinh kế, cải thiện hạ tầng thiết yếu và giữ vững quốc phòng, an ninh; chuyển từ tư duy hỗ trợ sang khai thác có trách nhiệm một không gian phát triển có giá trị chiến lược.

Thứ năm, văn hóa - du lịch là dư địa tạo bản sắc cạnh tranh và sức hấp dẫn. Nghệ An có Khu di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Kim Liên, Khu du lịch quốc gia Kim Liên, Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh - Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, du lịch biển Cửa Lò, Vườn quốc gia Pù Mát và văn hóa cộng đồng các dân tộc. Kết nối các giá trị này thành chuỗi văn hóa - lịch sử - sinh thái - biển - cộng đồng có thể gia tăng thời gian lưu trú, mức chi tiêu và chất lượng trải nghiệm; đồng thời đưa bản sắc văn hóa thành một nguồn lực của phát triển bền vững.

Thứ sáu, nguồn lực con người và các thiết chế giáo dục, y tế, văn hóa là dư địa nâng chất lượng tăng trưởng. Lợi thế chỉ thành năng lực cạnh tranh khi đào tạo gắn với nhu cầu kỹ sư, lao động kỹ thuật, nhân lực số, logistics, năng lượng, du lịch và quản trị; đồng thời nâng chất lượng sống để thu hút, giữ chân nhân lực.

Thứ bảy, chính quyền địa phương hai cấp tạo dư địa cải cách thể chế và năng lực thực thi. Quan hệ quản trị ngắn hơn từ tỉnh đến xã có thể giúp quyết định và phản hồi trực tiếp hơn, nhưng chỉ phát huy khi phân cấp đi cùng nguồn lực, dữ liệu, cán bộ và trách nhiệm trực tiếp. Nếu tổ chức tốt, mô hình hai cấp sẽ trở thành một dạng “hạ tầng thể chế” phục vụ phát triển.

Từ các phân tích trên có thể xác định một nhận định xuyên suốt: dư địa phát triển không tự chuyển hóa thành tăng trưởng; chỉ trở thành nguồn lực thực sự khi được tổ chức, kết nối và khai thác bằng năng lực quản trị tương xứng. Theo đó, quy mô phải chuyển thành năng lực kết nối; FDI thành năng lực sản xuất nội sinh; hạ tầng thành lợi thế chi phí; văn hóa thành sức hấp dẫn; nhân lực thành năng suất; mô hình hai cấp thành năng lực quản trị; vị trí vùng thành năng lực liên kết, lan tỏa; quốc phòng, an ninh thành nền tảng ổn định.

3. Những vấn đề đặt ra cần tập trung giải quyết để tạo nền tảng cho các đột phá chiến lược

Một là, khoảng cách giữa quy mô và chất lượng tăng trưởng cần được đặc biệt quan tâm. Dòng vốn đầu tư lớn tạo thêm năng lực sản xuất, nhưng doanh nghiệp bản địa tham gia sâu vào chuỗi cung ứng còn hạn chế; công nghiệp hỗ trợ và dịch vụ kỹ thuật chưa tương xứng. Mục tiêu cực tăng trưởng vì vậy phải gắn với năng suất, giá trị gia tăng, chất lượng doanh nghiệp và khả năng hình thành chuỗi giá trị bền vững.

Hai là, hạ tầng kết nối và logistics vẫn là điều kiện tiên quyết. Các đầu mối giao thông và không gian kinh tế chỉ phát huy khi kết nối hiệu quả. Cảng biển, logistics, liên kết đường bộ - đường sắt - hàng không, kết nối khu công nghiệp với cảng và thị trường, cùng hạ tầng năng lượng, nước, môi trường, số cần tiếp tục hoàn thiện. Trong điều kiện nguồn lực hữu hạn, phải ưu tiên công trình tạo thay đổi rõ về thời gian, chi phí và khả năng kết nối.

Ba là, nguồn nhân lực thiếu hụt nhất là nhân lực chất lượng cao, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa theo kịp nền kinh tế công nghiệp - dịch vụ mới. FDI làm tăng nhu cầu về kỹ sư, công nhân kỹ thuật, quản trị sản xuất, dữ liệu, tự động hóa và logistics. Liên kết giữa cơ sở đào tạo, nghiên cứu với doanh nghiệp cần chuyển sang đào tạo theo đặt hàng và nghiên cứu ứng dụng.

Bốn là, lợi thế văn hóa - du lịch chưa được chuyển hóa tương xứng thành giá trị gia tăng cao và sức cạnh tranh điểm đến. Lượng khách tăng nhưng khách quốc tế còn hạn chế; sản phẩm chất lượng cao, kinh tế đêm, vui chơi - giải trí, công nghiệp văn hóa và chuỗi trải nghiệm liên vùng còn nhiều dư địa. Yêu cầu đặt ra là chuyển từ khai thác tài nguyên sẵn có sang phát triển sản phẩm có giá trị cao, đồng thời nâng thời gian lưu trú, mức chi tiêu và chất lượng trải nghiệm của du khách.

Năm là, chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu cao về năng lực quản trị và tổ chức thực thi. Quy mô xã, phường và khối lượng công việc tăng; một số lĩnh vực cần tiếp tục hoàn thiện thẩm quyền, quy trình phối hợp và điều kiện thực hiện. Chất lượng cán bộ, hạ tầng số và dữ liệu chưa đồng đều. Thành công phải được đo bằng chất lượng giải quyết công việc và sự thuận lợi của người dân, doanh nghiệp.

Sáu là, phát triển nhanh phải đồng thời bảo đảm quốc phòng, an ninh, môi trường, kỷ cương và cân bằng giữa các tiểu vùng. Địa bàn rộng, biên giới dài, bờ biển, nhiều dự án lớn và các địa bàn dân tộc, tôn giáo đặc thù làm gia tăng yêu cầu quản lý địa bàn, phòng ngừa nguy cơ và đấu tranh với hành vi lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để gây chia rẽ, mất ổn định; đồng thời phải bảo đảm đầy đủ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Phát triển chỉ bền vững trên nền tảng ổn định; quốc phòng, an ninh chỉ vững chắc khi kinh tế phát triển, đời sống Nhân dân được nâng cao và niềm tin xã hội được củng cố.

Các vấn đề trên cho thấy điểm nghẽn cốt lõi không phải là thiếu tiềm năng, mà là khoảng cách giữa tiềm năng và năng lực tổ chức phát triển. Thu hẹp khoảng cách đó thông qua liên kết chuỗi, hạ tầng, nhân lực, quản trị và năng lực tạo giá trị nội sinh là những bài toán trọng tâm cần giải quyết đến năm 2030.

4. Hướng đi xuyên suốt và các đột phá chiến lược đến năm 2030

Từ kết quả nghiên cứu và những vấn đề đặt ra, năng lực cực tăng trưởng của Nghệ An cần được hình thành trên năm thành tố: năng lực sản xuất có giá trị gia tăng cao; năng lực kết nối và lan tỏa; năng lực hấp dẫn nhân lực, du khách và dịch vụ chất lượng cao; năng lực quản trị và tổ chức thực thi; năng lực bảo đảm ổn định, an toàn và sức chống chịu. Phát triển nội tỉnh là nền tảng, liên kết vùng là phương thức mở rộng hiệu quả, còn mức độ tham gia các chuỗi giá trị và mạng lưới quốc gia là thước đo sức lan tỏa. Trong cấu trúc đó, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện của cấp ủy, chính quyền các cấp phải là đột phá mở đường.

Đột phá thứ nhất, nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện của cấp ủy, chính quyền các cấp. Mục tiêu cực tăng trưởng cần được cụ thể hóa thành chương trình, nhiệm vụ và dự án ưu tiên, gắn với trách nhiệm người đứng đầu, nguồn lực, tiến độ và kết quả đầu ra. Cùng với quyết tâm chính trị, cần tăng cường kỷ luật thực thi, kiểm tra, giám sát và điều phối liên ngành, liên địa bàn; xây dựng hệ thống chỉ tiêu phản ánh cả quy mô, chất lượng tăng trưởng, hiệu quả quản trị, sức lan tỏa, môi trường, an ninh - an toàn và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp. Đây là đột phá mở đường để các định hướng phát triển được chuyển hóa thành kết quả cụ thể.

Đột phá thứ hai, biến mô hình chính quyền địa phương hai cấp thành lợi thế về quản trị và tốc độ thực thi. Cần phân định rõ việc của tỉnh, việc của xã; giao nhiệm vụ gắn với thẩm quyền, nhân lực, tài chính, dữ liệu và trách nhiệm giải trình. Cấp tỉnh tập trung chiến lược, quy hoạch, điều phối; cấp xã nâng cao năng lực tổ chức thực hiện và phục vụ trực tiếp người dân, doanh nghiệp. Dữ liệu dùng chung về quy hoạch, đất đai, đầu tư, doanh nghiệp, hạ tầng, dân cư và lao động cần trở thành một cấu phần của hạ tầng quản trị trong mô hình hai cấp.

Đột phá thứ ba, nâng cao chất lượng thu hút FDI theo hướng gia tăng giá trị được giữ lại tại địa phương. Thu hút đầu tư cần coi trọng công nghệ, giá trị gia tăng, hiệu quả sử dụng đất - năng lượng và khả năng liên kết chuỗi. Trọng tâm là phát triển nhà cung cấp trong tỉnh, công nghiệp hỗ trợ, dịch vụ kỹ thuật và năng lực đáp ứng tiêu chuẩn của các tập đoàn; lấy mức độ doanh nghiệp Nghệ An tham gia chuỗi giá trị và năng suất nền kinh tế làm thước đo.

Đột phá thứ tư, tập trung nguồn lực cho hạ tầng có khả năng làm giảm chi phí phát triển. Ưu tiên các dự án giảm rõ thời gian và chi phí kết nối giữa khu công nghiệp, khu kinh tế với cảng biển, sân bay, trục quốc gia và cửa khẩu; đồng thời bảo đảm điện, nước, môi trường, số và logistics. Cách tiếp cận cần chuyển từ từng công trình riêng lẻ sang mạng lưới hạ tầng phục vụ chuỗi sản xuất - thương mại - dịch vụ.

Đột phá thứ năm, phát triển nguồn nhân lực, khoa học - công nghệ và dịch vụ chất lượng cao thành nền tảng của mô hình tăng trưởng mới. Đào tạo phải gắn trực tiếp với nhu cầu doanh nghiệp ở các ngành điện tử, cơ khí, tự động hóa, logistics, năng lượng, công nghệ số, du lịch và quản trị; đồng thời nâng chất lượng y tế, giáo dục, nhà ở, giao thông đô thị, văn hóa và môi trường sống để thu hút, giữ chân nhân lực.

Đột phá thứ sáu, phát triển văn hóa - du lịch thành động lực dịch vụ mang bản sắc xứ Nghệ và gia tăng sức hấp dẫn của cực tăng trưởng. Cần liên kết Khu du lịch quốc gia Kim Liên, du lịch biển Cửa Lò, đô thị Vinh, Vườn quốc gia Pù Mát và miền Tây; phát triển du lịch văn hóa - lịch sử, biển, sinh thái, cộng đồng, MICE và kinh tế đêm. Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh, lễ hội, làng nghề và ẩm thực cần gắn với chuyển đổi số, công nghiệp văn hóa. Hiệu quả phải được đo bằng thời gian lưu trú, mức chi tiêu, khách quốc tế, thu nhập cộng đồng và giá trị văn hóa được bảo tồn, lan tỏa.

Đột phá thứ bảy, tổ chức miền Tây và khu vực biên giới thành không gian phát triển xanh gắn với quốc phòng, an ninh. Ưu tiên lâm nghiệp giá trị cao, dược liệu, kinh tế dưới tán rừng, nông nghiệp đặc sản, du lịch sinh thái và kinh tế cửa khẩu; đồng thời cải thiện giao thông, viễn thông, y tế, giáo dục. Khai thác phải gắn với bảo vệ hệ sinh thái, giữ gìn văn hóa, sinh kế của Nhân dân, củng cố hệ thống chính trị cơ sở và thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân.

Đột phá thứ tám, nâng năng lực liên kết vùng và định vị chức năng của Nghệ An trong mạng lưới tăng trưởng quốc gia. Cần kết nối đô thị Vinh - Khu kinh tế Đông Nam - các khu công nghiệp - ven biển - miền Tây - cửa khẩu với hành lang Bắc - Nam và các tuyến Đông - Tây; tăng hợp tác với các địa phương Bắc Trung Bộ về logistics, công nghiệp, du lịch, y tế, giáo dục, năng lượng và nguồn nhân lực. Liên kết phải được cụ thể hóa bằng dự án, tuyến kết nối, chuỗi sản phẩm và cơ chế phối hợp, qua đó nâng mức độ tham gia của Nghệ An vào các chuỗi sản xuất, dịch vụ và logistics quốc gia.

Đột phá thứ chín, xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh gắn với không gian phát triển và mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Quy hoạch hạ tầng, khu kinh tế, đô thị, du lịch, cửa khẩu, biên giới và ven biển phải tích hợp yêu cầu quốc phòng, an ninh ngay từ đầu; không để khoảng trống trong nắm tình hình, quản lý địa bàn. Cần tăng phối hợp Công an - Quân sự - Bộ đội Biên phòng, quản trị dựa trên dữ liệu bảo đảm “đúng, đủ, sạch, sống”, phát huy vai trò Nhân dân và người có uy tín; chủ động phòng ngừa các nguy cơ gây mất ổn định. Quốc phòng, an ninh là cấu phần hữu cơ của phát triển bền vững.

***

Kết quả nghiên cứu cho thấy Nghệ An đã hình thành những nền tảng quan trọng cho giai đoạn phát triển mới: tăng trưởng và FDI có chuyển biến tích cực; công nghiệp, hạ tầng kết nối được mở rộng; văn hóa - du lịch, giáo dục, y tế và nguồn nhân lực tạo thêm sức hấp dẫn; mô hình chính quyền địa phương hai cấp mở ra dư địa đổi mới quản trị; quốc phòng, an ninh tiếp tục bảo đảm ổn định. Tuy nhiên, trở thành cực tăng trưởng tầm quốc gia là bước chuyển về chất, đòi hỏi chuyển từ tích lũy lợi thế sang hình thành năng lực tạo giá trị, năng suất, liên kết và sức lan tỏa.

Từ kết quả nghiên cứu có thể có một số nhận định cần lưu tâm: Thứ nhất, cực tăng trưởng không đồng nhất với tốc độ GRDP cao hoặc quy mô vốn đầu tư lớn; cốt lõi là năng lực nội sinh và khả năng lan tỏa động lực phát triển xuyên suốt quá trình nền kinh tế vận hành. Thứ hai, sự đa dạng về không gian và nguồn lực vừa là lợi thế, vừa đặt ra yêu cầu cao về tổ chức phát triển; thiếu liên kết sẽ làm phân tán lợi thế. Thứ ba, trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, chất lượng lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện quyết định khả năng chuyển hóa quy hoạch, nguồn lực và cơ hội thành kết quả cụ thể.

Hướng chuyển đổi đến năm 2030 cần nhất quán theo ba chiều: từ tiềm năng sang năng lực; từ dự án đơn lẻ sang chuỗi giá trị và hệ sinh thái; từ mở rộng không gian sang nâng cấp quản trị và tăng cường liên kết. Phát triển nội tỉnh tạo nền tảng, liên kết vùng mở rộng hiệu quả nguồn lực, còn khả năng tham gia các hành lang kinh tế và chuỗi sản xuất, dịch vụ có phạm vi quốc gia, xuyên biên giới phản ánh mức độ trưởng thành của một cực tăng trưởng.

Trong hệ thống các đột phá, nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện của cấp ủy, chính quyền các cấp có ý nghĩa mở đường. Mục tiêu cực tăng trưởng chỉ có thể được hiện thực hóa khi tăng trưởng kinh tế đồng thời tạo ra năng lực nội sinh mạnh hơn, liên kết sâu hơn, quản trị hiệu quả hơn, chất lượng sống được nâng lên, môi trường được bảo vệ và quốc phòng, an ninh được giữ vững. Khi đó, các nguồn lực riêng lẻ mới được chuyển hóa thành năng lực phát triển tổng hợp và sức lan tỏa của Nghệ An trong vùng và cả nước.