Chính sách đã tạo lực đẩy ban đầu
Cụm công nghiệp Quỳnh Châu được UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch với tổng diện tích 70 ha, thuộc xã Quỳnh Tam. Một trong những điều kiện quan trọng để biến quy hoạch thành không gian sản xuất thực tế là hệ thống giao thông kết nối. Từ chính sách hỗ trợ phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của HĐND tỉnh theo Nghị quyết số 22/2021/NQ-HĐND ngày 09/12/2021 của HĐND tỉnh ban hành Quy định một số chính sách phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An, tuyến đường vào Cụm công nghiệp Quỳnh Châu dài gần 1 km, tổng mức đầu tư từ ngân sách tỉnh hơn 14,5 tỷ đồng, đã hoàn thành và đưa vào sử dụng.
Theo Trưởng phòng Kinh tế, UBND xã Quỳnh Tam Nguyễn Đức Toàn: Việc đưa tuyến đường vào sử dụng có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình hình thành và phát triển Cụm công nghiệp Quỳnh Châu. Tuyến đường kết nối với Quốc lộ 48B, tạo thuận lợi trong tiếp cận cao tốc Bắc - Nam và hệ thống cảng biển, qua đó tăng khả năng thu hút doanh nghiệp khi hạ tầng cụm công nghiệp được hoàn thiện; đồng thời mở thêm cơ hội tạo việc làm, tăng thu ngân sách và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương.
Không chỉ tuyến đường vào cụm công nghiệp Quỳnh Châu, theo Sở Công Thương, sau gần 5 năm triển khai chính sách hỗ trợ phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngân sách tỉnh đã hỗ trợ gần 45,3 tỷ đồng đầu tư các công trình hạ tầng kỹ thuật thiết yếu. Trong đó có hỗ trợ xây dựng đường vào các Cụm công nghiệp Châu Quang, Châu Lộc, Hưng Yên; hỗ trợ lập quy hoạch chi tiết Cụm công nghiệp Diễn Thắng, Hưng Yên; đầu tư hạ tầng kỹ thuật và công trình bảo vệ môi trường tại Cụm công nghiệp Trường Thạch, Thượng Sơn... Từ nguồn lực hỗ trợ này, kết cấu hạ tầng từng bước được hoàn thiện, tạo điều kiện thu hút 9 doanh nghiệp làm chủ đầu tư xây dựng hạ tầng và 11 doanh nghiệp thứ cấp, với tổng vốn đăng ký khoảng 3.135 tỷ đồng. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh đã thành lập 31 cụm công nghiệp, thu hút 257 doanh nghiệp và cơ sở sản xuất thứ cấp vào hoạt động, tổng vốn đầu tư đạt 2.707 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho khoảng gần 2,6 vạn lao động. Tỷ lệ lấp đầy bình quân đạt 75%; giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt 4.283 tỷ đồng/năm, nộp ngân sách nhà nước khoảng 375 tỷ đồng/năm.
Cùng với hỗ trợ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp, Nghị quyết số 22/2021/NQ-HĐND ngày 9/12/2021 của HĐND tỉnh còn có thêm hai nhóm chính sách, gồm hỗ trợ phát triển tiểu thủ công nghiệp và phát triển công nghiệp hỗ trợ. Trong đó, chính sách hỗ trợ phát triển tiểu thủ công nghiệp trong vòng gần 5 năm qua, ngân sách tỉnh đã dành hơn 1 tỷ đồng với hoạt động chính là hỗ trợ tổ chức các gian hàng trưng bày sản phẩm công nghiệp TTCN và làng nghề tại các sự kiện, hội chợ trong và ngoài tỉnh.
Đánh giá về tác động của chính sách, Giám đốc Sở Công Thương Phạm Văn Hóa cho rằng: Chính sách hỗ trợ hạ tầng không chỉ dừng ở giá trị của phần ngân sách đã đầu tư mà quan trọng tạo được tác động lan tỏa đủ lớn để kích hoạt các nguồn lực khác, góp phần hình thành được các khu vực sản xuất tập trung, thu hút doanh nghiệp, tạo việc làm và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các địa phương. Cùng với đó là nâng cao hiệu quả quản lý đất đai, môi trường, phòng cháy, chữa cháy và từng bước hạn chế tình trạng cơ sở sản xuất phân tán trong khu dân cư. Tương tự, việc hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất tham gia các gian hàng tại hội chợ, sự kiện xúc tiến thương mại cũng tạo thêm không gian quảng bá, kết nối cung – cầu và mở rộng thị trường tiêu thụ, góp phần nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của sản phẩm địa phương.
Những “điểm nghẽn” cần tháo gỡ
Bên cạnh những kết quả và tác động tích cực, qua giám sát việc thực hiện 18 nghị quyết về cơ chế, chính sách phát triển kinh tế - xã hội còn hiệu lực, Thường trực HĐND tỉnh chỉ ra một số “điểm nghẽn” trong triển khai chính sách phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.
Theo Trưởng ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh Cao Tiến Trung, chính sách hỗ trợ lãi suất vốn vay đến nay chưa phát sinh hồ sơ đề nghị giải ngân do quy mô chính sách nhỏ, chưa tạo sức hút để doanh nghiệp vận dụng. Chính sách hỗ trợ di dời cơ sở sản xuất gây ô nhiễm cũng triển khai chậm; tại một số địa phương, công tác tuyên truyền, vận động, xây dựng kế hoạch và lộ trình di dời chưa được quan tâm đúng mức. Đối với hạ tầng cụm công nghiệp, khó khăn lớn nằm ở khả năng bố trí vốn đối ứng. Một số cụm công nghiệp cần nguồn lực để hoàn thiện hạ tầng nhưng địa phương khó cân đối vốn; trong khi một số cụm công nghiệp do doanh nghiệp làm chủ đầu tư chưa hoàn thành các hạng mục theo quy định nên chưa đủ điều kiện tiếp cận chính sách. Đáng chú ý, các công trình bảo vệ môi trường, nhất là hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung tại các cụm công nghiệp do Nhà nước đầu tư, vẫn gặp khó khăn do nguồn lực hạn chế.
Việc chuyển sang mô hình chính quyền địa phương 2 cấp cũng đặt ra yêu cầu mới đối với chính sách. Khi không còn cấp huyện, một số cụm công nghiệp trước đây do UBND cấp huyện làm chủ đầu tư được chuyển giao cho cấp xã, trong khi năng lực quản lý và khả năng bố trí vốn đối ứng của cấp xã còn hạn chế. Điều này khiến một số quy định của Nghị quyết số 22/2021/NQ-HĐND không còn phù hợp với thực tiễn.
Từ kết quả giám sát, Thường trực HĐND tỉnh kiến nghị UBND tỉnh chỉ đạo cơ quan chuyên môn khẩn trương xây dựng hồ sơ trình HĐND tỉnh ban hành nghị quyết thay thế Nghị quyết số 22/2021/NQ-HĐ. Trên cơ sở đó, Sở Công Thương đang tham mưu xây dựng chính sách mới theo hướng tập trung nguồn lực Nhà nước vào những hạng mục có khả năng tháo gỡ các “điểm nghẽn” lớn nhất. Giám đốc Sở Công Thương Phạm Văn Hóa cho biết: Dự thảo nghị quyết mới dự kiến điều chỉnh mức và tỷ lệ hỗ trợ đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp phù hợp với khả năng cân đối ngân sách và quy mô từng dự án; ưu tiên hệ thống xử lý nước thải tập trung tại các cụm công nghiệp do Nhà nước quản lý và hạ tầng giao thông kết nối đến cụm công nghiệp. Cách tiếp cận này chuyển từ hỗ trợ dàn trải sang hỗ trợ theo điểm nghẽn, sử dụng nguồn lực công có trọng tâm để tạo điều kiện thu hút và phát huy nguồn lực xã hội. Bên cạnh hạ tầng, chính sách mới được định hướng bổ sung, điều chỉnh cơ chế hỗ trợ tiếp cận đất đai, giảm tiền thuê đất và ưu đãi quỹ đất công nghiệp theo định hướng của Nghị quyết số 198/2025/QH15 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.
Cách tiếp cận này cho thấy một thay đổi đáng chú ý: Nhà nước không hướng tới việc “làm thay” doanh nghiệp, mà sử dụng nguồn lực công để giải quyết những phần việc có tính chất nền tảng, từ đó tạo điều kiện để khu vực tư nhân tham gia sâu hơn vào đầu tư hạ tầng và sản xuất. Đó cũng là cách biến chính sách thành “vốn mồi”: một đồng ngân sách phải hướng tới khả năng kéo theo nhiều đồng vốn xã hội, tạo thêm năng lực sản xuất, việc làm và nguồn thu lâu dài.
Về tiểu thủ công nghiệp, trên cơ sở tham mưu của Sở Công Thương, UBND tỉnh đã trình HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết số 13/2025/NQ-HĐND ngày 10/7/2025 của HĐND tỉnh quy định mức chi cho hoạt động khuyến công trên địa bàn tỉnh Nghệ An, đã tạo thêm cơ sở để triển khai các chính sách hỗ trợ sản xuất, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực và mở rộng thị trường cho các cơ sở công nghiệp nông thôn.
Từ chính sách khuyến công đã được ban hành và chính sách hỗ trợ phát triển cụm công nghiệp đang được tham mưu thay thế Nghị quyết số 22/2021/NQ, khi được hoàn thiện và triển khai sẽ góp phần tháo gỡ những điểm nghẽn từ thực tiễn, khơi thông nguồn lực, tạo điều kiện thúc đẩy công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển nhanh và bền vững. Qua đó, từng bước hiện thực hóa mục tiêu Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 23/12/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, xác định công nghiệp là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm và nâng cao sức cạnh tranh của tỉnh.



