Giai đoạn 2021 - 2025, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, sự giám sát của HĐND tỉnh, sự chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, các Chương trình MTQG đã được triển khai nghiêm túc trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Việc phân bổ nguồn vốn được các địa phương thực hiện đúng quy định, bảo đảm công khai, dân chủ, đúng đối tượng, đúng mục tiêu. Đáng chú ý, việc phân cấp, giao UBND cấp xã làm chủ đầu tư các công trình quy mô nhỏ đã giúp địa phương chủ động hơn trong quản lý, điều hành; cấp xã đã rà soát nhu cầu, lấy ý kiến người dân để lựa chọn danh mục ưu tiên và phát huy vai trò giám sát của cộng đồng. Nguồn vốn được ưu tiên cho các lĩnh vực thiết yếu, ưu tiên các thôn, bản đặc biệt khó khăn và chủ động lồng ghép với các nguồn vốn khác mang lại hiệu quả rõ rệt.
Đối với Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, kết cấu hạ tầng nông thôn từng bước được đầu tư, nâng cấp, số tiêu chí và số xóm, bản đạt chuẩn nông thôn mới tại các xã được nâng lên. Cụ thể, giai đoạn 2021 - 2025, xã Quế Phong đạt 14/19 tiêu chí (có 11/31 xóm, bản đạt chuẩn, chiếm 35,4%); xã Tri Lễ đạt 12/19 tiêu chí; xã Nậm Cắn đạt 11/19 tiêu chí; xã Mường Chọng đạt 6/19 tiêu chí (có 01/20 bản đạt chuẩn). Nhiều công trình phụ trợ, nhà văn hóa cộng đồng tại bản Chiềng Ban, bản Lầu, bản Bông, bản Chiềng Nong, cầu dân sinh Tạ Lọng Bản Ban, hệ thống mương thủy lợi tại bản Hoa Tiến, bản Chào Mở, đường giao thông nội bản Luồng Lạnh, Bản Kiềng đã phát huy hiệu quả thiết thực. Về Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững, nguồn vốn sử dụng đúng mục tiêu, đúng đối tượng giúp tỷ lệ hộ nghèo giảm rõ rệt qua các năm. Tại xã Nậm Cắn, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 56% năm 2021 xuống còn 38,6% năm 2025; xã Quế Phong giảm từ 25,50% năm 2021 xuống còn 14,50% năm 2025, góp phần cải thiện đời sống và tăng khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội thiết yếu cho người dân. Cùng với với đó, Chương trình MTQG phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) được triển khai đồng bộ thông qua hỗ trợ phát triển sản xuất, sinh kế, đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu, nước sinh hoạt, đào tạo nghề và bảo tồn bản sắc văn hóa. Các chương trình đã góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, củng cố niềm tin của đồng bào đối với Đảng và Nhà nước.
Bên cạnh những kết quả đạt được, qua kiểm tra thực tế và báo cáo của các địa phương, Ban Dân tộc HĐND tỉnh đã chỉ ra những tồn tại, hạn chế ảnh hưởng đến tiến độ và hiệu quả của chương trình. Một số tiêu chí phân bổ chi tiết có nội dung chưa sát với thực tế, còn dàn trải, định mức nhỏ lẻ, mang tính cào bằng, chưa tính đến sự khác biệt về quy mô dân số, diện tích tự nhiên, mức độ đặc thù của từng địa phương như xã biên giới có địa hình chia cắt mạnh so với xã vùng thấp. Khi phân bổ vốn đang có xu hướng chia đều nguồn lực để đảm bảo chỉ tiêu thay vì tập trung ưu tiên cho các địa bàn trọng điểm, khó khăn. Do thủ tục phức tạp, cấp cơ sở thường chọn các công trình quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản để dễ triển khai và giải ngân, thay vì đề xuất các dự án liên kết vùng, liên xã có tính chất tạo động lực phát triển kinh tế lớn hơn. Ngoài ra, tiêu chí phân bổ vốn chủ yếu tập trung vào xây lắp, chi phí giải phóng mặt bằng thuộc trách nhiệm đối ứng của địa phương trong khi khả năng đối ứng của các huyện miền núi còn hạn chế. Vốn đầu tư bị phân tán dẫn đến một số công trình hạ tầng thiết yếu mang tính kết nối không đủ kinh phí để hoàn thành dứt điểm, kéo dài thời gian thực hiện. Việc bố trí nguồn lực thực hiện các mô hình hỗ trợ sản xuất hiệu quả chưa cao, khả năng nhân rộng hạn chế, thiếu liên kết tiêu thụ sản phẩm và chưa tạo ra chuỗi giá trị. Định mức hỗ trợ tại các nghị quyết của HĐND tỉnh chưa đồng bộ, mức hỗ trợ tối đa còn thấp so với nhu cầu, nguồn lực nhỏ lẻ nên khó hình thành mô hình sản xuất quy mô phù hợp. Đáng chú ý, nguồn vốn giao chậm, thường vào cuối năm, rơi vào thời điểm các địa phương miền núi thường xuyên xảy ra mưa lớn, lũ quét, sạt lở đất gây khó khăn cho thi công. Bên cạnh đó, giá nguyên vật liệu và chi phí vận chuyển tăng cao ảnh hưởng đến tiến độ, khiến định mức ban đầu không còn đủ chi phí để thực hiện. Cơ chế quản lý, nội dung chi và thời gian thực hiện giữa các nguồn vốn chưa thống nhất; thủ tục thanh toán, quyết toán còn nhiều bước, thời gian thẩm định kéo dài. Mặt khác, sau khi vận hành chính quyền địa phương 02 cấp, đội ngũ cán bộ có sự điều chuyển, thay đổi, làm gián đoạn việc tiếp cận, nắm bắt nhiệm vụ và thực hiện giải ngân.
Để kịp thời tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các Chương trình MTQG, Ban Dân tộc HĐND tỉnh kiến nghị UBND tỉnh quan tâm chỉ đạo thực hiện một số nội dung cốt lõi nhằm bảo đảm dòng vốn chính sách. Trước hết, cần xử lý khoảng trống pháp lý về định mức phân bổ. Do Nghị quyết số 05/2022/NQ-HĐND quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách nhà nước thực hiện Chương trình MTQG phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021 - 2025 đã hết hiệu lực từ ngày 30/12/2025. Tuy nhiên thực tế năm 2026, Trung ương vẫn cấp nguồn vốn bổ sung và kéo dài thời gian giải ngân dẫn đến khoảng trống pháp lý khi phân bổ, do đó đề nghị có hướng xử lý kịp thời để bảo đảm việc triển khai nguồn vốn. Đồng thời, chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường sớm xây dựng, hoàn thiện và trình Nghị quyết về nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn các Chương trình MTQG tại Kỳ họp thường lệ giữa năm 2026 của HĐND tỉnh khóa XIX nhằm bảo đảm kịp thời có cơ sở để thực hiện phân bổ nguồn vốn Trung ương giao; trong đó chú trọng các yếu tố đặc thù như địa bàn, diện tích, dân cư, mức độ ảnh hưởng thiên tai... và xem xét bố trí nguồn vốn đối ứng cho các xã miền núi, địa bàn đặc biệt khó khăn. Ban Dân tộc cũng kiến nghị sớm ban hành đầy đủ văn bản hướng dẫn thực hiện các Chương trình MTQG giai đoạn 2026 - 2030 theo thẩm quyền, đồng bộ, thống nhất; tăng quyền chủ động cho cấp xã trong điều chỉnh nội dung, kinh phí giữa các dự án, tiểu dự án trong phạm vi nguồn vốn được giao. Quan tâm đến việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, quy trình giải ngân, thanh quyết toán và xem xét kéo dài thời gian giải ngân đối với các dự án gặp khó khăn khách quan. Cuối cùng, cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo các sở, ngành, địa phương trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, không để các công trình, dự án bị gián đoạn; quan tâm tập huấn, nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ thực hiện chính sách cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã sau sắp xếp, sáp nhập, nhất là cán bộ trực tiếp phụ trách các Chương trình MTQG.



