"Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra Đất Nước."
(Nguyễn Khoa Điềm)
Lịch sử đa phần được ghi lại bằng tên tuổi của những đế vương lập quốc, những triều đại hào hùng chống ngoại xâm, những danh nhân đã hóa thần hiển thánh trong lòng dân tộc. Nhưng khi bước chân chạm vào những địa danh Di tích quốc gia đặc biệt của cao trào Xô Viết Nghệ - Tĩnh, tôi lại nhận ra thêm chiều kích sâu sắc của triết lý: Đất nước này là Đất nước của Nhân dân.
Đất nước lớn vì có Nhân dân anh hùng, và Nhân dân lớn bởi một tấm lòng yêu nước nguyên sơ, mộc mạc và bền bỉ như đá sỏi Xứ Nghệ.
Người xưa bảo "Địa linh nhân kiệt". Cái khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên đã đúc nên "mẫu người Xứ Nghệ" hiếu học, thẳng thắn, quyết liệt, và đặc biệt là cái tính "Gàn Nghệ", cái “gàn” của sự kiên định, chuộng nghĩa, thấy bất bằng là không chịu khoanh tay. Khi khát vọng sống bị dồn đến chân tường, cái khí chất ấy kết hợp với lý tưởng mới, bùng lên thành ngọn lửa Xô Viết.
Trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, Đất nước bắt đầu từ những điều gần gũi như miếng trầu bà ăn, cái kèo, cái cột, hạt gạo một nắng hai sương xay giã giần sàng. Ở Bến Thủy trong những ngày sục sôi của cao trào cách mạng 1930 - 1931, Đất Nước bắt đầu từ tiếng còi nhà máy hú lên trong sương sớm, từ những bàn tay chai sạn của thợ diêm, thợ cưa, thợ bến cảng hòa cùng bước chân trần của nông dân Lộc Đa, Đức Thịnh.
Họ là ai? Họ là những người công nhân, nông dân áo cánh nâu quanh năm lam lũ. Họ không có xe tăng, chẳng có súng đạn, cũng không có một tấc sắt trong tay. Nhưng khi tấm lòng yêu nước được thức tỉnh thì chiếc gậy tre, tay đòn xóc và những lá cờ đỏ búa liềm nhuộm bằng phẩm thủ công bỗng trở thành vũ khí.
"Kìa Bến Thủy đứng đầu phất cờ
Cả Nghệ An đâu đâu cũng bước..."
(Vè Xô Viết Nghệ Tĩnh)
Tượng đài công - nông - binh Bến Thủy ngày nay đứng đó, bên dòng sông Lam hiền hòa, nhưng trầm tích dưới lòng đất này là bước chuyển mình khi người nông dân - công nhân Xứ Nghệ bước ra khỏi bóng tối để tự tay viết tên mình vào lịch sử.
Nếu có một nơi mà sự hy sinh của những con người vô danh đạt đến tầm vóc bi hùng, thì đó chính là Thái Lão (Hưng Nguyên). Mảnh đất đã nhuộm máu đào vào ngày 12/9/1930.
Hàng ngàn con người rầm rộ kéo về phủ lỵ. Khi máy bay thực dân trút bom, khi đạn xối vào đoàn người tay không, hàng trăm người đã ngã xuống ngay trên những thửa ruộng vừa xong mùa gặt.
Lịch sử có thể không ghi chép được đầy đủ danh tính, quê quán của từng người trong số họ. Tên của họ chìm vào im lặng của lòng đất. Nhưng chính sự "không ai nhớ mặt đặt tên" ấy lại làm nên sự vĩnh hằng.
Máu của họ lặn vào đất đai để lúa lại xanh màu lúa.
Thân thể họ hòa vào dải đất Hưng Nguyên để làm nên dáng hình Tổ quốc.
Khí tiết của họ hòa vào gió sông Lam để nhắc nhở thế hệ sau về giá trị của hai chữ “Tự do”.
"Mười hai tháng chín rõ ràng
Hưng Nguyên kéo đến nghìn hàng đấu tranh..."
Ở Thái Lão, máu đổ xuống để làm nên một "địa chỉ đỏ". Nhưng sâu xa hơn về mặt tinh thần, đó là nơi thử thách cao nhất bản lĩnh kiên cường của người dân. Họ không chịu cúi đầu trước bạo lực. Quảng trường Xô Viết Nghệ - Tĩnh dựng lên trên đất Thái Lão hôm nay không chỉ để tri ân những người đã ngã xuống, mà là nơi lưu giữ một giá trị nhân văn: Sự hy sinh vì nghĩa lớn luôn trở thành bất tử trong tâm thức dân gian.
Bước qua bờ bắc sông Lam sang đất Hà Tĩnh, dừng chân ở Ngã ba Nghèn và những địa danh gắn với phong trào Xô viết Nghệ - Tĩnh ở Can Lộc, Đức Thọ, ta lại thấy một khía cạnh rực rỡ khác của “Đất Nước Nhân dân”.
Khi chính quyền thực dân - phong kiến ở địa phương sụp đổ, ai là người đứng ra quản lý xóm làng? Chính là Nhân dân.
Dưới mái đình Hậu Lộc hay đình Luông cổ kính, những người nông dân cả đời chưa từng bước ra khỏi lũy tre làng bỗng trở thành những người chủ thực sự. Họ lập ra chính quyền Xô Viết, tự chia lại ruộng công, dạy nhau học chữ Quốc ngữ, xóa bỏ hủ tục, giữ gìn trật tự xóm làng.
Tấm lòng yêu nước đã làm nên điều kỳ diệu. Nó biến những con người nghèo khổ, lam lũ, ít chữ thành những người có năng lực kiến tạo xã hội mới. Họ không học lý thuyết từ sách vở hàn lâm, họ học từ tình đồng bào, từ khát vọng về một cuộc sống công bằng và nhân ái.
Quần thể Di tích Xô Viết Nghệ - Tĩnh trở thành Di tích quốc gia đặc biệt bởi nơi đây lưu giữ linh hồn của Nhân dân.
Đất nước lớn vì Nhân dân anh hùng. Sự vĩ đại của một dân tộc không đo bằng diện tích mà đo bằng khả năng đứng dậy của triệu triệu con người vô danh trước sóng gió lịch sử.
Nhân dân lớn vì tấm lòng yêu nước. Tấm lòng yêu nước ấy chính là dòng mạch ngầm nuôi dưỡng phẩm giá Việt Nam.
Trở về vùng đất Xô Viết hôm nay, đứng trước sông Lam biếc xanh hay Ngã ba Nghèn nhộn nhịp, nghe tiếng gió thổi qua những mái đình rêu phong, ta hiểu rằng: Đất Nước này do Nhân dân làm ra, được nuôi dưỡng bằng máu và bằng xương thịt của những người vô danh. Vì thế, Đất Nước ấy, Dân Tộc ấy nhất định mãi trường tồn.



