Vị quê nơi tầng sâu ký ức
Đã bao giờ đứng trước vò tương, vại nhút, ta tự hỏi: Vì sao Xứ Nghệ lại chọn cái mặn chát của nhút muối và cái mùi ủ nồng của tương để làm hình hài cho một phần di sản của mình? Phải chăng, người ta chỉ có thể lưu giữ thành di sản những gì đã được làm nên bằng quá nhiều nhẫn nại, nhọc nhằn và cả từ nước mắt?
Nhút Thanh Chương, ngẫm cho cùng, khởi đi từ đường cùng của cuộc sống. Nhưng chính từ đường cùng ấy, con người lại tìm thấy một lối đi, chứ không để hoàn cảnh quyết định số phận của mình.
Mỗi mùa mưa bão ập đến, dòng sông Lam vốn trong xanh là thế, phút chốc trở nên hung dữ, cuốn phăng hoa màu, cây cối trần trụi gục đầu giữa mênh mang nước lũ đến bùn lầy. Cứ triền miên năm này qua năm khác. Bởi thế, ngay từ mùa mít chín giữa hè, mẹ đã gom tất cả những xơ mít mật, mít dai để làm nhút. Mẹ xé mỏng những mảng xơ mít dai thành từng sợi, vo những mảng xơ mít mật thành từng nắm to, nắm nhỏ, rắc lên mấy nắm muối hột rồi nén thật chặt dưới một tảng đá khe nặng trịch trong vại sành để góc bếp tranh.
Không chỉ làm nhút từ xơ mít, Mẹ còn bứt những quả mít non không thể chờ đến ngày quả chín, vì cần phải có vại nhút đủ cho cả những tháng ngày không có chi ăn sắp tới. Kiểu nhút làm từ mít non này là mẹ phải gọt bỏ vỏ dội nước, ngâm mươi phút cho vài ba lần để hết nhựa, dùng dao sắc bằm nhỏ rồi thái mỏng, thái cả những hạt mít non xuống mẹt hay nống gấm, rồi thái tiếp những củ riềng lấy từ ngoài góc vườn để trộn cùng với muối mà làm nhút.
Lại nữa, khi những buồng chuối ngự, chuối hột vừa ra hết những nải quả, mẹ nối liềm vô sào ngoặc những hoa chuối đó xuống, tìm thêm ít quả khế chua, ít măng vòi, tất cả được thái mỏng trộn cùng rồi nén vô vại sành. Người Xứ Nghệ dường như không vứt thứ gì. Bởi nghèo quá, lấy đâu ra cái chi để mà vứt nữa! Nhưng đằng sau cái hài hước đến chua chát ấy là cả một triết lý sống. Biết quý từng thứ nhỏ nhoi mình có được, biết nhặt nhạnh từ cái khắc nghiệt một chút ngọt lành để nuôi nhau qua ngày. Người nghèo không có nhiều của cải để truyền lại cho con, họ truyền lại một cách sống: biết chịu đựng, biết chắt chiu và biết biến cái không thể thành cái có thể.
Có khi nào chúng ta nhận ra, cái cách người Xứ Nghệ làm nhút cũng hệt như cái cách cha mẹ mình đi qua kiếp người? Họ tự nén lòng mình xuống dưới những gánh nặng của dâu bể, tự ướp mình qua bao mặn mòi mưa nắng, để thêm se sắt nghị lực mà đi qua những mùa giáp hạt.
Nhà nghèo, chỉ có vại nhút để làm đồ ăn nuôi con. Người Nghệ xưa có câu đùa hài hước khi đố ai muốn làm một việc chi đó khó khăn chừng không thể làm được thì nói: mi phải ăn mấy chục vại nhút nựa.
Miếng nhút dai, giòn trong miệng, chạm vào đầu lưỡi là vị chát, rồi cái mặn xè xộc lên tận óc, để sau cùng mới chịu chắt ra một chút chua thanh, nhẹ hẫng. Người Nghệ ăn cơm với nhút để no cái bụng, hay còn để tự nhắc mình về cái nghèo đã ăn sâu vào xương tủy? Cái nghèo từng đày ải con người đến mức phải biến cả sự khắc nghiệt của thiên nhiên thành một cách để tồn tại, để an ủi chính mình.
Rồi những đứa trẻ lớn lên từ những vại nhút ấy, đi khắp bốn phương trời, cứ đau đáu một câu hỏi: Liệu cái vị mặn ấy đang nuôi sống mình, hay nó chính là vết xước trong ký ức, khiến ta cả đời không thể nào quên được bao lam lũ, tảo tần của mẹ, không thể nào quên được sự bền gan, vững chí của cha?
Nếu nhút là câu chuyện của sự nén chịu, thì tương là câu chuyện của sự hóa giải. Cũng từ những thứ bình dị, cũng đi qua nắng gió, thời gian và bàn tay người, nhưng cuối cùng cái mặn chát của cuộc đời lại được hóa thành vị ngọt. Có lẽ vì thế mà tương Nam Đàn không chỉ có vị của đậu, của muối, của nắng; nó còn có vị của lòng người biết chờ đợi.
Những mẻ đỗ sau bao ngày ngâm ủ, lên men, những vại tương được mẹ mở ra đón nắng giữa trưa hè. Tương được làm nên từ những hạt đậu bình dị, nhưng cũng từ chính thứ nắng gió khắc nghiệt nhất của miền quê này. Nắng gió Lào thổi qua rát mặt, làm xơ xác bờ tre, mái rạ. Vậy mà người Xứ Nghệ lại dùng thứ nắng tưởng như chỉ để thiêu đốt ấy mà ủ tương, để những hạt đậu trong chum, vại chuyển mình qua từng ngày, từng tháng, từ thô ráp, cứng cỏi thành thứ nước màu cánh gián sóng sánh, béo bùi.
Tương không dành cho những ai vội vã. Hạt đậu nành thô ráp, cứng cỏi là thế, qua bao ngày ngâm ủ, lên men, bao lần phơi dưới cái nắng rát da, dưới mùa mưa tầm tã, cuối cùng mới chịu mềm đi, chịu tan ra thành dư vị không thể trộn lẫn của vùng quê Nam Đàn. Và đó cũng chính là nét riêng của người Xứ Nghệ. Phải kinh qua bao nhiêu gắt gao của giông bão, bao nhiêu cháy rát của đời người; phải cẩn trọng, kiên nhẫn, chăm chút qua từng tháng ngày, mới chắt ra được một dư vị đậm đà, riêng có như thế.
Bát tương Nam Đàn chấm ngọn rau khoai, chấm thịt luộc, đậu phụ… mặn đó rồi ngọt đó, đậm đà mà không gắt. Nó như một lời hòa giải sâu đằm giữa con người với thiên nhiên. Con người không chống lại nắng hạn. Họ học cách sống cùng nắng gió, dùng chính thứ nắng gió đến “rạc bờ tre” ấy để làm nên những thức quà dân dã, kết tinh thành đặc sản của một vùng quê non xanh nước biếc.
Có những di sản được dựng lên bằng đá, bằng gỗ, được ghi tên trong hồ sơ, được khoanh vùng để bảo tồn. Nhưng cũng có những di sản không cần một tấm bia, không cần một mái đình hay một sắc phong. Nó chỉ cần được một người mẹ truyền lại cho con qua những bữa ăn, rồi từ người con ấy đi theo suốt một đời. Rốt cuộc, di sản là gì nếu không phải là ký ức về sự sinh tồn của con người?
Đền đài kiêu hãnh rồi cũng có thể sụp đổ theo thời gian. Những vật thể hữu hình có thể hao mòn, mất dấu. Nhưng có những thứ tưởng nhỏ bé lại bám rễ rất sâu vào ký ức: cái vị mặn chát nén trong vại sành, cái đậm đà chắt ra từ nắng hạn, cái hương vị theo những người con Xứ Nghệ đi suốt cuộc đời. Nó găm chặt vào máu thịt của những con người sinh ra từ “mảnh đất nghèo mồng tơi không kịp rớt” (Hoàng Trần Cương).
Có những chiều, dùng bữa cơm quê nơi đất khách, bất chợt gặp lại hai món nhút, tương của quê nhà. Người khen ngon, người chê mặn. Nhưng mấy ai thấu được đằng sau bát tương, đĩa nhút ấy là dáng mẹ gầy gộc ngồi gỡ, nén từng nắm mít trong bóng chiều nhập nhoạng, tất tả che vò tương khi gió mưa bất chợt; là tiếng thở dài và cái gạt mồ hôi của cha khi nhìn cánh đồng mất mùa, là nỗi day dứt khi con rời bước tha phương mà cha mẹ chỉ dành dụm được ít tiền lẻ!
Nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn không chỉ là những món ăn để thưởng lãm cho vui miệng. Đó là dấu tích của một cách sống. Là cái giá của sự sống. Là câu chuyện về cách con người biến thiếu thốn thành sự chắt chiu, biến khắc nghiệt thành sức mạnh, biến những gì tưởng như bỏ đi thành một phần ký ức không thể mất. Để rồi một mai, giữa muôn trùng phố xá thênh thang, người Xứ Nghệ tự hỏi: Mình đã mang theo cái gì khi rời quê nhà?
Có lẽ, mỗi người quê ta đều mang theo một “vại sành” âm thầm trong tâm tưởng. Vại sành ấy không có nắp, nhưng cũng chẳng bao giờ cạn. Mỗi lần nhớ quê, chỉ cần một mùi tương nồng, một vị nhút mặn, một bát cơm nóng giữa chiều xa xứ, ta lại mở nó ra và thấy mẹ, thấy cha, thấy căn bếp cũ, thấy những mùa mưa lũ, những mùa giáp hạt và thấy cả một miền quê đã nuôi mình lớn lên từ những điều tưởng như nhỏ bé nhất.
Để dẫu có đi đến cùng trời cuối đất, thưởng thức bao sơn hào hải vị, ta vẫn luôn nhận ra: không có thứ gì mặn bằng giọt mồ hôi của mẹ cha, và cũng chẳng có dư vị nào sâu đằm hơn những nhọc nhằn, lam lũ, lo toan từ cha mẹ đã làm nên hình hài của ta, đã làm nên trí tuệ, khí chất, tâm hồn ta hôm nay.
Có lẽ, đó chính là di sản lớn nhất mà quê hương để lại trong mỗi con người. Không nằm trong những gì mắt nhìn thấy. Mà nằm sâu thẳm trong tâm khảm mỗi một người con Xứ Nghệ.
Bài: Trương Công Tú - Nguyễn Mai Linh
Trình bày: Hoàng Bá



