Địa danh xứ Nghệ, nếu chịu khó bóc tách dưới góc nhìn ngôn ngữ học lịch sử, bao giờ cũng lấp lánh những tầng vỉa văn hóa thú vị lắm. Tên chữ Hán nghĩa đen là đóa sen vàng, nghe nó trang nhã, đài các và bác học. Nhưng dân cày, người phu phen thì từ nảo từ nào cứ nôm na gọi là Kẻ Sen, còn quê ngoại Hoàng Trù thì gọi là Kẻ Chùa. Chữ "Kẻ" ấy nó cổ sinh, nó bám rễ vào bùn non, vào rơm rạ quê kiểng của văn minh lúa nước. Kẻ Mơ, Kẻ Bưởi, Kẻ Noi ngoài Bắc... và trong này là Kẻ Sen. Ấy thế mà, một sự vĩ đại có sức lay chuyển cả thời đại lại cất bước từ chính cái cõi "Kẻ" lấm láp ấy, để rồi thăng hoa đúng như cái tên Kim Liên, tạc vào lịch sử một danh xưng bất diệt.
Xứ Nghệ thiên nhiên trắc nết vô cùng. Gió Tây Nam ràn rạt thổi vắt kiệt mồ hôi, gầy xọp cả dáng người; nắng thì như rang mà mưa thì như trút, bão lụt trắng đồng. Nhưng văn hóa dân gian nó có cái quy luật bù trừ tự nhiên kỳ lạ: chính sự khắc nghiệt của phong thổ lại hun đúc nên cốt cách "đồ Nghệ" gàn dở, bộc trực mà ái quốc kiên trung đến tận cùng. Ở Kim Liên, cái cương cường ấy lại được trung hòa, ấp ủ yêu thương bởi một trái tim từ mẫu.
Bạn cứ bước qua chiếc cổng tre lúp xúp vào ngõ Hoàng Trù, nơi cậu bé Nguyễn Sinh Cung cất tiếng khóc oa oa đón vệt nắng đầu tiên mà xem. Đập vào mắt ta là một nếp nhà tranh ba gian hai chái lợp lá vờn xuống tận đầu người. Trong cái không gian ngai ngái mùi đất ám khói ấy, tôi tần ngần đứng lặng rất lâu trước chiếc khung cửi bằng gỗ luồng đã mòn vẹt. Với khách tham quan, nó là một hiện vật. Nhưng dưới con mắt tôi, đó là tâm điểm của một không gian diễn xướng dân gian ròng ròng sự sống.
Đêm đêm, tiếng thoi đưa lách cách của mẹ Hoàng Thị Loan nhịp nhàng hòa cùng điệu ví phường vải dặt dìu. Ví giặm xứ Nghệ nó không lúng liếng ướt át như quan họ Kinh Bắc, chẳng mượt mà sầu tư như đờn ca tài tử phương Nam. Nó mộc mạc, gân guốc, triết lý đầy đặn và trĩu nặng âu lo của những kiếp người quanh năm sấp ngửa.
"Ai biết nước sông Lam răng là trong là đục
Thì biết sống cuộc đời răng là nhục là vinh".
Lời ru ấy cất lên bên cánh võng gai sần sùi. Nó đâu chỉ là âm thanh thanh trắc thanh bằng để dỗ trẻ con ngủ. Nó truyền nhân nghĩa, truyền đạo lý cương thường, và tấu lên cả nỗi xót xa u uất của thân phận người dân mất nước. Cậu bé Cung đã bú mớm cái lớp phù sa văn hóa truyền khẩu đẫm mồ hôi và nước mắt ấy mà định hình nhân cách. Mẹ dệt tấm sồi lam lũ, dệt cả tấm lòng từ bi biết đau nỗi đau của đồng loại, biết xót thương cho gốc rạ nhành cây trước bão giông thời cuộc.
Lội bộ dăm quãng đồng sang quê nội làng Sen, không gian kiến trúc chuyển dịch rành rọt sang một hệ mã văn hóa khác: Cốt cách kẻ sĩ. Năm 1901, cụ Nguyễn Sinh Sắc đậu Phó bảng. Cụ về làng, chọn ở trong ngôi nhà năm gian lợp tranh, vách nứa phên trát bùn do bà con xuất đinh tiền công quỹ dựng tặng. Làng xuất tiền dựng nhà là trọng cái chữ thánh hiền, còn cụ Phó bảng chọn ở nhà tranh là để giữ lấy cái nếp "thanh bần lạc đạo" của nhà Nho.
Cái sự học của xứ Nghệ nó lạ đời lắm, nghèo đến mấy cũng cắn răng mà học, nhưng học không phải để luồn cúi cầu vinh, mà học để vinh thân tề gia, để giữ lấy cái sĩ khí. Trong ngôi nhà lá ấy, cái mâm mộc, chiếc án thư, chiếc chõng tre xù xì góc nhà chính là một "diễn đàn" của lòng yêu nước. Tôi cứ hình dung chú bé Côn đêm đêm chong đèn châm nước chè, lặng lẽ vểnh tai nghe và nuốt vào lòng từng tiếng thở dài sườn sượt của cha và các sĩ phu rường cột của phong trào Cần Vương, Đông Du như Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý, Đặng Thái Thân… trước cảnh nước mất nhà tan. Khát vọng giải phóng dân tộc, tôi đồ rằng khởi thủy từ chính cái chõng tre ọp ẹp râm ran chuyện "bình thiên hạ" của các bậc trí sĩ bất lực trước thời cuộc ấy. Nhãn quan chính trị vượt thời đại của một vĩ nhân được thai nghén từ chính sự bế tắc đau xót của thế hệ đi trước, để rồi thôi thúc người thanh niên ấy phải gạt nước mắt bước ra biển lớn, tìm một con đường đi mới cho sinh mệnh dân tộc.
Có một tiểu tiết cảnh quan ở Kim Liên mà tôi cho là đắt giá vô cùng, đó là hàng râm bụt. Ở chốn cung đình phủ đệ, người ta dùng gạch đá xây tường cao hào sâu để ngăn cách nhân quần. Nhưng ranh giới của nếp nhà Làng Sen lại là những bụi râm bụt xén ngang ngực. Nó vạch ra một không gian tư hữu gia đình, nhưng lại xốp, lại mở, lại giao cảm hoàn toàn với cộng đồng xóm giềng. Những cánh hoa đỏ chói vươn lên từ đất cằn vạch nên một biểu tượng tuyệt đẹp của tinh thần làng xã: giữ được cái tôn nghiêm tĩnh tại của một nếp nhà trí thức, nhưng tuyệt nhiên không rào bít lòng mình với nhân dân. Chẳng thế mà nửa thế kỷ bôn ba, ngày về thăm chốn cũ, vị Chủ tịch nước vẫn rưng rưng nhớ phải rẽ qua hàng râm bụt nhà cố Điền thợ rèn. Lòng yêu nước đại đồng của Người, xét cho cùng từ cội rễ, chính là sự mở rộng đến vô ngần cái tình yêu nếp nhà tranh, yêu bờ râm bụt, yêu cái xóm giềng lam lũ ấy.
Men theo hàng râm bụt xén bằng tăm tắp đang thắp những nốt son đỏ chói rực rỡ mà bình yên, tôi nghe gió lướt qua mặt ao lấm tấm nụ tơ. Tên làng là Sen. Kim Liên - đóa sen vàng. Sen mọc lên từ bùn, nhưng sen không chối bỏ bùn. Trái lại, nó cắm rễ thật sâu vào vũng lầy hôi tanh, nhẫn nại hút lấy đắng cay nhọc nhằn để chế tác thành hương thơm tịnh khiết. Bùn của Kim Liên, bùn của nước Việt thuở ấy là vũng lầy tủi nhục của kiếp nô lệ lầm than. Đóa sen ấy đã cựa mình vươn lên từ lớp bùn vạn trược, đi muôn dặm hải hồ, qua bao sương gió lao tù, qua những đô hội phồn hoa bậc nhất trần gian, rồi chạm đến tột đỉnh quyền lực. Nhưng quyền lực tột đỉnh ấy dường như chẳng để lại mảy may tì vết nào trên nếp áo kaki sờn vai của Người. Sen vẫn vô nhiễm. Vẫn lột bỏ mọi rườm rà thế tục để giữ trọn cốt cách khiêm nhường Làng Sen trong ngôi nhà sàn thoảng hương ngọc lan giữa thủ đô văn hiến.
Kim Liên - "Khu di tích quốc gia đặc biệt". Nơi đây "đặc biệt" bởi đang cất giữ một hệ sinh thái văn hóa phôi thai. Nó cất lên bản anh hùng ca từ những bề bộn lam lũ đời thường. Đặc biệt bởi đây là một vỉa “trầm tích văn hóa – lịch sử” sâu thẳm, nơi bảo lưu trọn vẹn nhất những căn tính dân tộc đã hun đúc nên một Con Người làm xoay chuyển bánh xe lịch sử Việt Nam thế kỷ 20.
Chiều nay, nán lại giữa ngõ Làng Sen khi bóng non Chung đang đổ sẫm. Gió Nam dẫu khô khốc nhưng lướt qua những bàu nước bỗng dịu đi bởi mùi bùn non và hương sen ngai ngái. Cái chân lý nhân sinh ở đời đôi khi giản dị đến bùi ngùi: Mọi điều vĩ đại nhất, nếu không cắm rễ sâu xa vào bùn lầy rơm rạ, không sinh thành từ khúc dân ca mộc mạc và chiếc chõng tre của nhân dân, thì chẳng thể nào đơm hoa và trường tồn được.
Hương sen mùa cũ, bởi thế, mà ngát mãi đến tận bây giờ.



