Thành cổ Vinh vẫn mang dáng dấp của một thành lũy uy nghi

Bạn có tin một phế tích như Thành cổ Vinh lại biết mỉm cười?

Trước khi chiêm ngưỡng nụ cười thành cổ, chúng ta hãy thực hiện một hành trình khám phá âm tiết Vinh sắc cạnh định hình trên bản đồ hành chính, hóa ra là cả một cuộc vật vã của ngữ âm học lịch sử.

Dân gian xưa gọi vùng này là Kẻ Vang, hay Kẻ Vịnh. Chữ "Vịnh" nôm na chỉ cái vũng, cái bến nước, nơi hợp lưu của những con sông nhỏ ven chân núi Dũng Quyết. Khi nhà Nguyễn dời lỵ sở về đây năm 1804, đặt tên chữ là Vĩnh Yên. Chữ "Vĩnh" (永) mang nghĩa lâu dài, vĩnh cửu. Từ Kẻ Vịnh, Kẻ Vĩnh, người Pháp sang không quen phát âm dấu nặng hay ngã của người bản xứ, lại cộng thêm giọng trọ trẹ phát âm nặng trịch của bà con xứ Nghệ, trên các văn bản hành chính bèn viết tuột thành "Vinh" (không dấu). Dần dà, sự biến âm vô thức ấy định hình luôn trên giấy tờ và cửa miệng người dân.

Sách Đại Nam thực lục ghi nhận triều đình rất kỳ công với tòa thành Vinh. Năm Gia Long thứ ba (1804) đắp bằng đất. Đến năm Minh Mạng thứ 12 (1831) mới huy động sức dân xây quy mô bằng đá ong, mô phỏng theo kiến trúc pháo đài Vô-băng của phương Tây. Cái thú vị nhất nằm ở chỗ: dẫu khoác cái vỏ kỹ thuật quân sự Tây học là hình lục giác với các góc vát nhô ra để triệt tiêu góc chết của đạn pháo, Thành cổ Vinh lại chứa đựng một đồ án phong thủy và tâm lý chính trị thuần Đông phương.

Dân ta nhìn từ núi Dũng Quyết xuống thấy thành có hình con rùa. Rùa mang yếu tố gánh vác càn khôn, vững chãi, hợp với chữ "Vĩnh". Nhưng mã số độc đáo nhất lại nằm ở hệ thống cửa vòm. Thành quy mô lục giác, chu vi hơn sáu trăm trượng, nhưng chỉ có ba cửa: Cửa Tiền (hướng Nam), Cửa Tả (hướng Đông) và Cửa Hữu (hướng Tây)? Tuyệt nhiên không có Cửa Hậu (hướng Bắc)!

Mặt trước cửa Tiền môn thành Nghệ An thập niên 1920.

 Ở bình diện tâm lý chính trị của nhà Nguyễn đương thời, phương Bắc là vùng đất của Thăng Long, của triều đại Lê - Trịnh cũ. Dân xứ Nghệ vốn có tiếng là "khí chất cương ngạnh", hay hoài vọng cựu triều. Đóng kín mặt Bắc chính là một biện pháp trấn yểm tâm lý: đoạn tuyệt sự vọng tưởng về phương Bắc, dồn toàn bộ tâm thức thần phục hướng về phương Nam.

Đứng trước phế tích Cửa Tiền, Cửa Hữu hôm nay, nhiều người xót xa tiếc nuối. Pháp Mỹ ném bom vùi lấp thành Vinh. Nhưng chúng ta đừng quên một sự thật bi tráng khác. Tòa thành này bắt đầu sụp đổ và hoang phế trong cao trào "Tiêu thổ kháng chiến". Hàng vạn đồng bào vác búa, xà beng đập phá chính nhà cửa của mình, đánh sập luôn bức tường thành kiên cố của quê hương để thực dân Pháp không có đồn bốt trú ngụ.

Hành động ấy mang sức nặng văn hóa vô tiền khoáng hậu. Khái niệm "thành lũy" để bảo vệ giang sơn lúc ấy không còn bó hẹp ở gạch đá vật chất nữa. Người dân sẵn sàng đập bỏ công trình trăm năm tuổi, tự tay cào bằng di sản để đổi lấy một thứ vô hình mà thiêng liêng hơn tất thảy: Nền Độc lập. Khối đá ong vỡ vụn lăn xuống đáy hào, tự thân chúng đã hoàn tất một vòng luân hồi vĩ đại: từ đất đá vô tri hóa thành biểu tượng vương quyền, rồi lại tự đập vỡ ra để làm bệ đỡ cho lòng dân giữ nước!

Mà bạn thử ngẫm mà xem. Thành lũy, từ bản chất nguyên sơ của nó, sinh ra là để làm gì? Là để ngăn cách. Ta xây thành để bảo vệ ta và chống lại người. Ta đào hào sâu vì ta sợ hãi. Tường thành là ranh giới phân chia giữa uy quyền và thứ dân, giữa an toàn và hiểm nguy. Sâu xa hơn, nó là biểu tượng của một cái "chấp" cố thủ, một bản ngã nơm nớp lo sợ sự đổi dời. Vương quyền rúc vào trong những vòng đá ong khép kín ấy để đi tìm một sự vĩnh cửu hão huyền.

Khi những bức tường ngạo nghễ ấy sụp đổ, cái không gian vốn dĩ khép kín ngột ngạt bỗng chốc vỡ òa. Nó gỡ bỏ ranh giới, hòa mình vào vũ trụ bao la. Gió lùa qua, nó mỉm cười đón nhận. Mây trắng lãng đãng bay vào, nó thong dong ôm lấy. Khi trút bỏ được chức năng phòng ngự và cái ách của quyền uy, tòa thành mới thực sự có tự do. Nó trở thành một cái "Không" rỗng rang mênh mông dung chứa đất trời. Đó chẳng phải là nụ cười của sự xả ly, nụ cười của vạn pháp quy không đó sao?

Thành Nghệ An thập niên 1920 nhìn từ trên cao.

Bước lại gần vòm Cửa Tả, bạn sẽ thấy rêu. Rêu mọc lấm tấm trên những phiến đá sứt sẹo. Cái màu xanh của rêu sao mà nhẫn nhục và hiền từ đến thế. Đá có thể mang thương tích bạo tàn, nhưng thiên nhiên thì bao dung vô hạn. Chỗ nào con người và lịch sử khoét thành vết thương, chỗ đó thiên nhiên lặng lẽ thả mầm xanh xuống xoa dịu. Rễ của những cội sanh, cội si trăm tuổi buông rủ chằng chịt, đan bện như những ngón tay gầy guộc của đất trời đang âu yếm vỗ về quá khứ. Sự tàn phai không phải là dấu chấm hết, nó là một ân huệ, là đất phì nhiêu cho một mầm sống khác nảy nở rạng ngời.

Một chiếc lá vàng chao nghiêng rụng xuống. Mây của thuở Minh Mạng thứ mười hai hay mây của chiều nay cũng chỉ là mây, hợp rồi tan, tụ rồi tán. Có gì đọng lại? Chỉ có nụ cười của tàn phai là ở lại.

Sống trên đời, con người ta ai chẳng tự xây cho mình những tòa thành? Những tòa thành của định kiến, của những lo âu tủn mủn và sân hận hẹp hòi. Ta nhốt mình trong đó, giương vây cố thủ, nơm nớp sợ hãi. Ta tưởng là mình an toàn, nhưng thực ra đang ngạt thở bởi chính sự phòng vệ của bản thân. Nếu cứ đóng chặt cửa thành, ta làm sao đón được ánh bình minh?

Thành cổ Vinh hình lục giác được nhìn từ trên cao. Ảnh: Báo Nghệ An 

Vậy nên, nếu có dịp dừng chân nơi phố thị ồn ào này, xin bạn hãy nán lại dưới vòm cổng khuyết thiếu. Hãy hít một hơi thật dài. Đừng buồn trước những đổ vỡ mòn hao của năm tháng. Hãy học từ gạch vỡ cách buông bỏ, học từ rêu xanh cách xoa dịu. Cứ để lòng mình rỗng rang như chiếc cổng vắng kia, cho gió tự do thổi xuyên qua. Bởi rốt cuộc, sức mạnh kiên cố nhất của đời người không phải là gồng mình xây nên một bức tường không bao giờ đổ. Mà là biết mỉm cười thong dong!