Cụ không viết. Cụ đang làm cho con chữ mỉm cười.

Người ta hay ví chữ viết là kết tinh của văn minh. Văn minh thì thường rành mạch, rõ ràng. Nhưng chữ Thái của đồng bào miền Tây xứ Nghệ - dù là hệ Lai Tay (viết dọc) tao nhã nơi mường Quỳ Châu, Quỳ Hợp, hay Lai Pao (viết ngang) cổ kính dọc bờ Nậm Nơn, Nậm Mộ - thảy đều không giống như những con chữ thẳng băng, vuông vức hay góc cạnh mà chúng ta thường giáp mặt mỗi ngày. Nếu nhìn kỹ vào những văn bản cổ, chúng ta sẽ thấy chữ Thái không mang dáng dấp khô cứng. Chữ là một vũ điệu của nước.

Chữ Thái Lai Pao cổ (Ảnh: TL)

Tôi nói là nước, bởi chính tổ tiên người Thái từng gọi bộ chữ Lai Pao của mình là Lai Liệp Nặm - nghĩa là thứ chữ trôi xuôi theo dòng nước lớn. Những nét chữ ấy cứ lượn tròn, uốn cong, uyển chuyển bám níu lấy nhau. Có nét vút lên nhẹ nhàng như nhánh mây rừng, có nét cong cong bao dung như dòng sông Hiếu, sông Lam hiền hòa ôm lấy chân núi. Chữ tịnh không có lấy một góc cạnh nhọn hoắt nào để làm tổn thương nhau. Chữ lượn vòng. Chữ mềm mại. Cái tròn trịa, nhu hòa của nét chữ ấy, há chẳng phải là triết lý sống êm đềm, thuận tự nhiên của người miền núi đó sao? Nước gặp đá thì nước uốn mình chảy vòng qua đá. Cứng quá thì gãy, sắc quá thì đứt. Chỉ có cái gì mềm mại như nước, vô ngã như mây, mới có thể thong dong đi xuyên qua mấy trăm năm dâu bể. Nhìn vào những nét chữ ấy, tự nhiên lòng mình chùng lại, buông bỏ hết xôn xao.

Ngoài viết trên lá thì chữ Thái cũng được tìm thấy trong các cuốn sách cổ bằng giấy thường

Nhiều người cữ ngỡ đồng bào dân tộc thiểu số chỉ có văn học truyền miệng. Nhầm to! Cả một bộ bách khoa toàn thư của mường bản nằm trong những cuốn sách “Lai” ấy. Trong đó có Lai sử (Quắm tố mương) chép quá trình rẽ lau lách thiên di lập bản dựng mường; có sách Hit khống (Luật tục) răn dạy đạo lý, quy định chuyện bảo vệ rừng cấm, bến nước thiêng nghiêm ngặt, trộm cắp hay tằng tịu với nhau thì phạt vạ mấy trâu mấy lợn ghi rành rọt lắm. Có sách cúng Lai mo giải hạn tống tà. Và đặc biệt là những áng thiên tình sử bi tráng hát xuyên qua đêm thâu như Xống chụ xon xao (Tiễn dặn người yêu) hay Khủ Lú - Nàng Ủa.

Chữ là dấu chân của tâm hồn. Trong những nét lượn vòng như khói bếp kia, đồng bào Thái xứ Nghệ đã cất giữ cả một vũ trụ linh thiêng. Chữ cõng trên lưng nó cả một hệ tư tưởng, và cả nỗi buồn vui của muôn vạn lớp người đã nằm xuống dưới bóng cây ké, cây táu. Hồn người gửi vào đâu, nếu không phải là vin vào con chữ? Tiếng nói vang lên rồi tan vào hư không, chỉ có chữ viết là bóng của âm thanh, ở lại và thủy chung cùng vạn vật.

Đặc trưng của văn hóa dân gian là tính nguyên hợp. Chữ Thái sinh ra là để diễn xướng. Bạn không thể cầm một cuốn sách Thái cổ lên và "đọc thầm" bằng mắt. Không có chuyện đó!

Khi người Thái giở trang giấy dó ra, mắt nhìn chữ, nhưng miệng lập tức cất lên thành điệu khắp, điệu nhuôn, rầm rì, réo rắt. Mặt chữ lúc này đóng vai trò như những nốt nhạc thị giác để đánh thức âm thanh, đánh thức trí nhớ của tộc người. Sự giao duyên giữa "văn bản viết" và "diễn xướng truyền miệng" ấy biến mặt giấy sờn cũ thành một không gian sân khấu ba chiều đẫm chất tâm linh và thế tục.

Người già bản Xiềng Líp đi học chữ Thái Lai Pao

Thế nhưng, bạn hỡi, triết lý phương Đông dạy ta rằng thế giới này là vô thường. Không có gì thoát khỏi luật sinh diệt.

Cơn lốc của thời đại mới trôi đi như một trận lũ ống cuồn cuộn. Những âm thanh ồn ã của phố thị, những ánh sáng xanh nhấp nháy từ màn hình điện thoại đã có lúc xô dạt những nét chữ hiền lành kia vào một góc khuất, tối tăm và lạnh lẽo. Lớp trẻ vội vã rủ nhau xuống núi, mắt quen với bàn phím vô hồn, dần bỡ ngỡ trước mặt chữ của ông bà. Chữ Thái cổ dường như ngủ quên trong những chiếc rương gỗ bám đầy bồ hóng, ngoan ngoãn và buồn bã. Nếu chữ phai nhạt, tổ tiên sẽ trở nên câm lặng. Một dân tộc lỡ đánh rơi mất chữ viết của mình, dẫu vòng xòe có rộn rã đến đâu, bề sâu linh hồn cũng đã mẻ đi một góc. Nỗi đứt gãy ấy nhẹ êm lắm, nó không cứa rách da thịt, nhưng nó làm chới với cội nguồn.

Thật may thay, cái Đẹp chân chính bao giờ cũng mang trong nó một sức sống tự tại. Văn hóa không bao giờ chết hẳn, nó chỉ lùi lại, khiêm nhường như chiếc lá khô ủ ấm mầm cây chờ ngày thức giấc.

Tôi lên những bản làng miền Tây xứ Nghệ, rưng rưng nhìn thấy những ngọn đèn dầu lại được thắp lên. Những nghệ nhân già râu tóc điểm sương, đêm đêm vẫn kiên nhẫn trải chiếu mở lớp dạy chữ ngay dưới gầm nhà sàn. Lớp học không có tiếng trống trường giục giã, chỉ có tiếng côn trùng rỉ rả ru đêm. Bàn tay gân guốc sần sùi cẩn thận cầm tay đứa trẻ, nắn từng nét cong. Đứa trẻ cắn môi, rụt rè vẽ một nét lượn như vẽ vành trăng non. Khoảnh khắc ấy, tôi thấy thời gian như ngừng trôi. Quá khứ và tương lai chạm tay nhau. Người già truyền lại hơi thở. Đứa trẻ đón lấy linh hồn.

Có một sự thiền định nhiệm mầu tỏa ra từ tư thế cúi đầu nắn nót của người viết chữ. Học chữ, thiết nghĩ, đâu phải để làm những bài toán kinh tế thiệt hơn, cũng chẳng phải để chạy đua mưu sinh. Học chữ để biết cội rễ mình cắm sâu vào mảnh đất nào. Giữa thế giới vô minh và vội vã này, khi người ta biết vạch những đường cong để viết tên mình bằng ngôn ngữ mẹ đẻ, người ta không còn là một luồng gió bơ vơ. Người ta tìm thấy một bến đỗ bình yên nhất để quay về. Sự công nhận của quốc gia khi vinh danh di sản chữ viết của người Thái, hay niềm vui khi những nét chữ Lai Tay thanh tao thong dong bước vào không gian số hóa của nhân loại, âu cũng là duyên lành tự nhiên đơm hoa kết trái từ những trái tim biết thao thức.

Chiều nay, sương trắng lại đùn lên từ thung lũng. Gập lại một trang sách cổ, nhìn sương giăng mắc ngoài bậu cửa, tôi chợt thấy lòng nhẹ bẫng. Những nét chữ bỗng không còn là những ký hiệu nằm im lìm trên giấy nữa. Chúng dường như vừa bứt rứt khỏi mặt giấy mỏng, bay lên, hòa vào sương, lấp lánh và thong dong vô ngần.

Bởi vì ở một nếp nhà sàn nào đó, ngọn lửa vẫn đang reo, và chữ đang mỉm cười.