Để hiểu một di tích như Phủ Đàng Cao, nếu chỉ nhìn vào những gì hiển lộ trên mặt đất như gạch đá, vôi vữa thì mới chỉ thấy cái ngọn. Muốn chạm vào cái gốc của công trình thế kỷ 16 này, ta phải đặt nó vào hai trục tọa độ cốt lõi: Lịch sử biến động của thế kỷ 16 thời Lê - Mạc và văn hóa dòng họ của vùng đất Hoan Châu cổ.
Phủ Đàng Cao là một "văn bản sống" minh chứng cho sức mạnh và vị thế của dòng họ Nguyễn Cảnh, một trong những đại gia tộc "vũ công hiển hách, văn trị lẫy lừng" trong lịch sử xứ Nghệ. Ba nhân vật được thờ ở đây: Thái phó Tấn quốc công Nguyễn Cảnh Hoan, Cường quận công Nguyễn Cảnh Vạn, và Phó nham hầu Nguyễn Cảnh Yên là những nhân vật then chốt trong công cuộc Phù Lê diệt Mạc, được ghi chép trang trọng trong tập gia phả dã sử nổi tiếng Nguyễn Cảnh ký.
Việc nhân dân vùng Đại Đồng dựng phủ thờ họ ngay từ thế kỷ 16, thời điểm những cuộc xung đột Nam - Bắc triều còn đang căng thẳng, cho thấy một hiện tượng đặc biệt trong tâm thức dân gian: Nhu cầu thánh hóa các nhân vật lịch sử. Từ những vị tướng thanh gươm yên ngựa trên chiến trường, họ đã bước vào thần phả, được dân làng "bản địa hóa" trở thành những vị Thành hoàng, những vị Phúc thần bảo hộ cho mùa màng và cuộc sống bình yên của cả một vùng quê.
Bước chân đến đây, cái chạm vào mắt ta đầu tiên là lầu tam quan cao sừng sững gần mười sáu mét. Trên vòm cửa, ba chữ Hán “Cao Thiên Phối” như một lời tự tình, một sự ước hẹn với tạo hóa. Cao ngang với trời, hay chính là tấm lòng con người muốn vươn lên để sánh cùng cái cao dày của nghĩa khí? Nhưng cái cao ở đây không làm người ta rợp ngợp hay xa cách, bởi nó được bao bọc bởi màu xanh dịu dàng của xóm thôn và hương sen thanh khiết thoảng lên từ chiếc hồ bát giác kề bên.
Tôi cứ ngắm mãi cái lầu tam quan ấy, một công trình được dựng lên vào năm 1940. Bản thân năm tháng ấy đã là một nốt trầm chuyển giao đầy biến động của lịch sử, thời điểm mà xã hội thuộc địa đang ở giai đoạn cuối, và những luồng gió Tây phương đã thổi sâu vào tận các làng quê hẻo lánh. Cụ đồ Huềng và những người thợ ngõng Ngọc Sơn năm ấy đã không chọn một lối mòn thuần cổ. Họ đã thực hiện một cuộc “chiết trung” đầy táo bạo trong kiến trúc dân gian. Ai bảo đồ Nghệ gàn bảo thủ? Đây là minh chứng cho tâm hồn cởi mở, phóng khoáng của người đất Hoan Châu.
Ba chữ “Cao Thiên Phối” như một lời khẳng định về tầm vóc tự thân của công trình. Nhưng điều làm nên giá trị tạo hình của lầu tam quan lại nằm ở cấu trúc hình khối mang hơi hướm phương Tây được phủ lên bằng một lớp “da thịt” hoàn toàn Việt Nam. Tầng một mở ra bốn hướng bằng các cửa vòm cuốn, một kỹ thuật xây cuốn gạch đặc trưng của kiến trúc thuộc địa. Lên đến tầng hai, ta lại bắt gặp một sự chuyển đổi thị giác ngoạn mục: những ô cửa sổ tròn mang mô-típ nhành trúc cách điệu. Trúc, biểu tượng của người quân tử trong Nho giáo, nay lại được uốn cong mềm mại để làm dịu đi sự gai góc, vuông vức của những khối gạch trần.
Đỉnh cao của sự đối thoại thời đại nằm ở hai pho tượng lính canh đứng chầu bên trụ biểu. Một người ôm cây súng trường tân thời, người kia tay tì đốc gươm truyền thống. Đây không đơn thuần là sự mô phỏng tả thực, mà là một ký hiệu học về thời thế. Người thợ dân gian xứ Nghệ đã đặt hai thứ binh khí của hai kỷ nguyên kế cận nhau trên cùng một trục đối xứng, biến chúng thành một cặp phạm trù thẩm mỹ: sự chuyển giao giữa cũ và mới, giữa nội sinh và ngoại nhập. Dù cầm súng hay cầm gươm, khuôn mặt của hai người lính vẫn mang nét chất phác, đôn hậu của những chàng trai cày, trung trinh canh giữ cõi linh thiêng cho các vị tướng công dòng họ Nguyễn Cảnh. Thời gian có thể mang đến những luồng gió mới, nhưng cái lõi cốt của lòng trung hiếu thì ngàn năm vẫn vậy.
Bước qua khoảng sân rộng để vào Trung điện và Thượng điện, ta lại được đắm mình vào thế giới của nghệ thuật điêu khắc gỗ thời Lê - Nguyễn. Trên các cấu kiện kiến trúc như cột cái, cột quân, xà, hạ, và đặc biệt là các khúc “cổ nghé”, bộ phận chuyển tiếp chịu lực vô cùng quan trọng, các nghệ nhân xưa đã phô diễn những đường chạm bong, chạm nổi hình rồng mây vô cùng sống động. Những con rồng ở đây không mang vẻ uy quyền, nanh vuốt của chốn cung đình, mà nó uốn lượn nhịp nhàng, phóng khoáng, mang hơi thở của sông nước mây trời xứ Nghệ.
Bên cạnh những con rồng, ta không thể không chú ý đến những con Nghê chầu được đắp tỉ mỉ ở các góc mái tam quan và bức bình phong trước trung điện. Con Nghê, linh vật thuần Việt, biểu tượng của sự trung thành và canh giữ tâm linh ở Phủ Đàng Cao mang một dáng vẻ vừa oai nghiêm vừa có chút hóm hỉnh dân gian.
Điều làm tôi xúc động hơn cả là những thứ khuất lấp dưới nền móng, ẩn trong từng thớ gạch. Cụ cao niên trong dòng họ kể lại móng của tòa tam quan được gia cố bằng biết bao cọc tre già. Rồi để gắn kết những viên gạch thành một khối vững chãi, người ta không chỉ dùng xi măng, mà chủ yếu là vôi, là cát trộn với nhựa cây bời lời và mật mía.
Bạn có thấy điều gì hiển hiện ở đây không? Cái làm nên sự trường tồn của một di tích, hóa ra lại bắt nguồn từ những thứ vô cùng bình dị, chất phác của quê hương. Tre già giữ đất, nhựa cây và mật ngọt nối liền những khoảng cách. Ngôi phủ thờ những vị tướng công lẫy lừng thời hậu Lê, những con người của gươm đao và trận mạc, nay lại được tưởng nhớ trong một không gian được gắn kết bằng vị ngọt ngào của mật mía quê nhà. Lòng biết ơn của cháu con, qua hàng thế kỷ, đã mềm mại hóa những chiến công hiển hách thành một khoảng trời văn hóa đầy tình nghĩa.
Một điểm cốt tủy nữa: Tại sao phủ lại nằm giữa cánh đồng làng?
Trong quy hoạch tâm linh của người Việt, vị trí của một nơi thờ tự không bao giờ là ngẫu nhiên. Phủ Đàng Cao tọa lạc giữa đồng, xét về phong thủy là thế đất khoáng đạt, nhưng xét về chiều sâu văn hóa, đó là sự gắn kết tuyệt đối giữa Thần quyền và Nông nghiệp. Các vị tướng công họ Nguyễn Cảnh khi sống giữ đất bờ cõi, khi thác đi lại trở thành những người canh giữ long mạch, canh giữ nguồn nước và sự phì nhiêu cho ruộng đồng Thanh Văn. Tiếng chuông thỉnh từ tầng ba của lầu tam quan lan tỏa trên những sóng lúa, chạm vào chiếc nón lá của người nông dân một nắng hai sương.
Ngồi bên hồ sen bát giác, nhìn những nhành trúc cách điệu quanh ô cửa sổ tròn trên tầng hai của lầu tam quan, ta thấy tâm mình lắng lại như dòng nước phẳng lặng. Những vị anh hùng thuở trước, sau khi đi qua dâu bể của một thời đại, có lẽ cũng chỉ mong được trở về yên nghỉ trong tiếng chuông trầm ấm ngân nga, giữa tiếng gió rì rào qua cánh đồng quê mẹ.
Đến với Phủ Đàng Cao, không phải để tìm một sự kỳ vĩ, mà là để tìm lại một nét chạm khắc tao nhã của tâm hồn xứ Nghệ. Một tâm hồn biết đón nhận cái mới mà không đánh mất cội nguồn; một tâm hồn biết dùng cái ngọt ngào của phù sa, của mật mía để xây nên cái kiên cố cho mai sau; và trên hết, là một tâm hồn luôn biết cúi đầu trước lịch sử để thấy mình được chở che dưới một khoảng trời bình yên.



