Đằng sau một nhà ngoại giao là dân tộc!
QUÊ HƯƠNG VÀ DÒNG HỌ
Theo bản khai lý lịch, đồng chí Nguyễn Mạnh Cầm sinh ngày sinh ngày 15 tháng 6 năm 1929 tại làng Yên Dũng Thượng, nay là Phường Hưng Dũng, TP Vinh. Về ngày sinh của ông, anh Nguyễn Cẩm Tú, nguyên Thứ trưởng Bộ Công thương chia sẻ: “Ông nội tôi là cụ Nguyễn Khắc Đống, công nhân Trường Thi. Có lần cụ nói với tôi: Cha mi (ông Cầm) sinh trước Tết năm Dần, mùa đông bà đi cấy đẻ ở ngoài ruộng… Nhà nghèo, lớn rồi mới được đi học cố đạo người Pháp, vì cha mẹ chưa biết quan tâm nên cố đạo khai sinh cho học trò, cứ ngày mồng một, mười lăm mà khai. Năm sinh cũng tự nghĩ ra”… Anh Tú cũng giải thích, ông Cầm vốn họ Nguyễn Khắc nhưng khi mới đẻ ra, do nhà nghèo không nuôi được, gia đình phải gửi cho nhà họ Nguyễn Mạnh nuôi. Vì thế ông lấy tên Nguyễn Mạnh Cầm và giữ mãi tên đó để thể hiện một sự biết ơn.

Hưng Dũng là một quê hương cách mạng.Trước năm 1930, nhiều người con Hưng Dũng, trong đó có những người thân trong gia đình Nguyễn Mạnh Cầm đã theo Tân Việt cách mạng Đảng, rồi Hội Thanh niên cách mạng, những tổ chức tiền thân của Đảng.
Hiện, Hưng Dũng còn cả một cụm di tích lịch sử để ghi dấu truyền thống cách mạng qua các thời kỳ. Dăm Mụ Nuôi, nơi thành lập chi bộ Đảng đầu tiên ngày 03-4-1930 do đồng chí Nguyễn Tiến Cuông làm Bí thư, đồng chí Dương Xuyến làm Phó Bí thư.
Trong “Bài ca cách mạng” của đồng chí Đặng Chánh Kỷ, Bí thư đầu tiên của Huyện ủy Nam Đàn năm 1930 có câu Kìa Bến Thủy đứng đầu dậy trước/ Nọ Thanh Chương tiếp bước đứng lên chính là nói về cuộc biểu tình ngày 1-5-1930 của 1200 công nhân Bến Thủy và nông dân Hưng Dũng dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Vinh và chi bộ Đảng Hưng Dũng, mở đầu cho cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh.
Đình Trung, hồi đó gọi là “Nóc bát hương”, nóc của 8 thôn xóm, là nơi nông dân tước triện của lý trưởng, nơi tuyên bố thành lập và là trụ sở của chính quyền Xô viết đầu tiên. Hưng Dũng được gọi là Làng Đỏ từ đây và nó còn được lưu dấu trong thư gửi Quốc tế Nông dân, của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ngày 5-11-1930: “Hiện nay ở một số làng Đỏ, chính quyền Xô viết của nông dân đã được thành lập”.

Trong cuộc biểu tình ngày 1-5-1930, và trong khủng bố trắng nhiều đảng viên và những người con ưu tú của Hưng Dũng đã bị giết hại như Nguyễn Tiến Cuông , Lê Công Thống, Nguyễn Sỹ Chính, Nguyễn Đôn Nhoãn, Nguyễn Đức Tiềng… Nhiều người khác bị địch bắt. Sau khi Bí thư Nguyễn Tiến Cuông hy sinh, Nguyễn Khắc Lịch được bầu làm Bí thư. Sau Nguyễn Khắc Lịch có Nguyễn Khắc Hạp, cả hai đều là người trong họ với Nguyễn Mạnh Cầm và là người nêu gương, giác ngộ cách mạng cho ông từ những ngày niên thiếu.
“Làng Đỏ” còn là nơi đóng của Xứ ủy Trung Kỳ, nơi chở che cho các đồng chí Nguyễn Phong Sắc, Nguyễn Đức Cảnh, Lê Viết Thuật, Nguyễn Văn Linh… ngày Đảng còn hoạt động bí mật.
Trong 8 năm chiến tranh phá hoại (1964 - 1973), do Hưng Dũng, Hưng Hòa là nơi có kho xăng, cơ sở quân sự và hậu cần quân đội, gần cảng sông nên bị đánh phá rất ác liệt ngay từ trận đầu ngày 5-8-1964. Tổng cộng, chúng đã đánh vào Hưng Dũng 592 trận với 5.674 quả bom, 104 quả rốc két, 350 quả pháo hạm, bị rải thảm bởi máy bay B52. “Làng Đỏ” trở thành đất lửa. Cả làng quanh mâm pháo, đặc biệt dân quân Hưng Dũng đã viết tiếp trang sử oanh liệt của quê hương mình bằng việc bắn rơi máy bay đầu tiên của Mỹ trên bầu trời thành phố Vinh ngày 1-9-1967, bắn rơi một F4 H vào ngày 25-7-1968, bắt sống giặc lái…
Trong Xô viết Nghệ Tĩnh và trong hai cuộc kháng chiến, một làng nhỏ ven sông Lam đã có 270 người hy sinh vì tổ quốc; có 5 bà mẹ được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.
Nguyễn Mạnh Cầm thuộc dòng họ Nguyễn Khắc, một dòng họ có truyền thống yêu nước và khoa bảng. Tổ tiên xa là Tiến sĩ Nguyễn Khắc Văn, quê ở xã Hoằng Liệt, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín (nay thuộc phường Hoằng Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội).
Con Nguyễn Khắc Văn là Nguyễn Khắc Thiệu (còn gọi là Nguyễn Năng Thiệu), đỗ Hoàng giáp năm 1643, dưới triều vua Lê Chân Tông. Thuở nhỏ thông minh dĩnh ngộ, lớn lên văn võ song toàn, sau khi đỗ tiến sĩ, Nguyễn Khắc Thiệu được phong quan, làm tùy tướng cho Trịnh Căn; đóng quân ở bờ bắc Sông Lam, đánh nhau với nhà Nguyễn ở Đàng Trong.
Cùng với thành tích về quân sự, Nguyễn Khắc Thiệu còn có có công khai hoang lập ấp, tạo nên nhiều làng xóm trù phú ven sông Lam. Ông được phong Ngự sử đài Phó đô ngự sử Dương Quận công, Tả Thị lang Bộ Lại, Bộ Lễ rồi Thượng thư Bộ Lễ . Ông mất năm 1668, khi mới 58 tuổi. Sách Đại Việt sử ký toàn thư đánh giá: “Năng Thiệu là người chất phác, ngay thẳng, làm quan thanh bạch”.
Quê hương và dòng họ anh hùng ấy đã ảnh hưởng sâu sắc đến cốt cách của Nguyễn Mạnh Cầm.
LÀM CÁCH MẠNG ĐỂ CỐNG HIẾN, KHÔNG PHẢI VÌ CHỨC VỤ
Được người anh họ là Nguyễn Khắc Hạp giác ngộ, Nguyễn Mạnh Cầm đã sớm tham gia Việt Minh, sớm được đoàn thể tín nhiệm. 16 tuổi (năm 1945) ông đã được bầu làm Bí thư thanh niên Cứu Quốc xã. Năm 17 tuổi được kết nạp vào Đảng. 18 tuổi làm Bí thư Thanh niên kiêm Chánh Văn phòng ủy Hưng Nguyên.

Năm 1950, đang là cán bộ Ủy ban Hành chính Kháng chiến Liên khu 4 thì Nguyễn Mạnh Cầm được cử lên Việt Bắc theo lớp đào tạo cán bộ nguồn. Ông kể: “Tôi bước vào nghề ngoại giao như là định mệnh. Được cử ra chiến khu học lớp cán bộ nguồn. Một hôm Cụ Hồ đến nói chuyện với lớp học. Bác nói nhiều, nhưng đại ý là hiện nay đang còn kháng chiến, nhưng vài năm nữa chúng ta sẽ hòa bình. Vì vậy chúng ta phải chuẩn bị cho tương lai… Mùa hè năm 1950, tôi được cử sang Bắc Kinh học tiếng Nga. Tôi được học cô giáo Nga tên là Lisa Kishkina. Bà là vợ ông Lý Lập Tam, nguyên Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị kiêm Bí thư Trưởng Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc” (sau này ông Tam bị sát hại trong cuộc Cách mạng Văn hóa, năm 1980 mới được phục hồi danh dự).
Hai năm sau, ông được cử sang Liên Xô, là một trong những người đầu tiên xây dựng, mở rộng Đại sứ quán Việt Nam tại Liên Xô (thời ấy, đồng chí Nguyễn Lương Bằng làm Đại sứ). Ông chính thức bước vào nghề ngoại giao từ đó, bắt đầu từ phiên dịch viên đến Trưởng phòng Liên Xô (1956), rồi Phó Chánh Văn phòng, Vụ trưởng Tổng hợp (1973). Sau đó, được cử làm Đại sứ tại Hungary kiêm Đại sứ tại Áo và Iran.
Sau Đại thắng Mùa xuân năm 1975, ông được bổ nhiệm Đại sứ, tiếp quản Đại sứ quán từ chính quyền Việt Nam cộng hòa tại Cộng hòa Liên bang Đức (Tây Đức), một công việc mới mẻ, khó khăn và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tích lũy cho mình những kinh nghiệm quý báu trong hoạt động đối ngoại với Phương Tây.

Năm 1981, đang là Vụ trưởng Tổ chức – Cán bộ Bộ Ngoại giao, ông Cầm bỗng được gợi ý sang làm Thứ trưởng Bộ Ngoại thương. Từ ngoại giao sang ngoại thương nghe đã giàu có hơn rồi, từ vụ trưởng lên thứ trưởng là bước tiến vượt xa, từ cán bộ thường lên cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước, là bước đệm để tiến xa hơn nữa. Thế mà ông xin không được nhận chức, với lý do chưa rành công tác ngoại thương, sợ không hoàn thành nhiệm vụ. Chỉ khi Thủ tướng Phạm Văn Đồng đưa tờ Quyết định chưa ký ra nói: “Đây là công tác Đảng phân công” khi đó mới thôi. Do có những đóng góp xuất sắc từ thời ở Bộ Ngoại giao và nỗ lực vươn lên trên lĩnh vực mới, tại ĐH VI (1986) ông được tín nhiệm bầu làm Ủy viên BCH Trung ương Đảng.
Năm 1991, khi đồng chí Nguyễn Cơ Thạch thôi Bộ trưởng Ngoại giao, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch HĐBT Đỗ Mười mời Nguyễn Mạnh Cầm lên, ngỏ ý đề cử ông làm người kế nhiệm. Lần này thì ông “hoảng hốt” thật sự. Ông thưa rằng, làm bộ trưởng khó lắm, xin anh báo cáo lại với Bộ Chính trị cho tôi xin, chọn người khác tài năng hơn, xứng đáng hơn!
Ông Đỗ Mười nghiêm giọng: “Thì ý kiến Bộ Chính trị đây: Anh có 35 năm làm nghề ngoại giao, 5 năm ngoại thương. Mà ngoại giao thời gian tới là làm kinh tế, thương mại. Anh là người vừa có kinh nghiệm ngoại giao, vừa có kinh nghiệm ngoại thương. Hai cái ấy kết hợp lại thì tuyệt vời còn gì. Vì thế Bộ Chính trị mới chọn anh. Anh còn ý kiến gì nữa không?”.
Sau ý kiến Bộ Chính trị thì còn ý kiến gì nữa?
Thế là ông Cầm trở thành Bộ trưởng Ngoại giao 2 nhiệm kỳ, vào Bộ Chính trị khóa VII, khóa VIII; Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế đối ngoại từ 29 tháng 9 năm 1997 đến 12 tháng 8 năm 2002.

Sau này, khi nghỉ hưu hoàn toàn, hưu cả Hội Khuyến học, cả Hội đồng hương trở về với đời thường Mùi thiền đã bén muối dưa/ Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng, ông tâm sự: Hễ lúc nào mình làm được việc, cảm thấy có ích cho dân, cho nước mới vui vẻ, thoải mái. Có việc xa lạ, tưởng khó, nhưng có tấm lòng, có sự phấn đấu rồi cũng làm được. Làm cách mạng không phải để có chức vụ, mà là để cống hiến. Nói như vậy nghe có vẻ lý thuyết, khó tin. Nhưng một người chỉ chạy theo chức vụ, đến khi không được thì không nên việc gì, hỏng cả một cuộc đời mà cũng chẳng mang lại mảy may lợi ích cho dân, cho nước!
NHỮNG ĐÓNG GÓP QUAN TRỌNG CỦA ĐỒNG CHÍ NGUYỄN MẠNH CẦM ĐỐI VỚI ĐẤT NƯỚC
Nói đóng góp của mỗi người cho cuộc đời, nhất là những người như Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm thì nhiều lắm. Việc tham gia khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám ngày còn trẻ cũng là đóng góp. Hai nhiệm kỳ làm Chủ tịch Hội Khuyến học làm tăng số hội viên từ 4 triệu lên 15 triệu và tạo ra một phong trào khuyến học sâu rộng trên phạm vi toàn quốc cũng là một đóng góp…
Ở đây, chúng tôi chỉ nói về những đóng góp của ông trên lĩnh vực ngoại giao và kinh tế đối ngoại trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
Kiên định độc lập và hòa hiếu thật lòng là một truyền thống quý báu trong đối ngoại của dân tộc ta mà đỉnh cao là Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh. Hồ chí Minh không chỉ là lãnh tụ dân tộc mà còn là Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ngay từ khi mới thành lập nước, Người tuyên bố Việt Nam sẵn sàng “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”. Trong buổi nói chuyện tại Lễ khai mạc Trường Đại học Nhân dân ngày 19-1-1955, Người nói rất rõ ràng: “Đối với người, ai làm gì lợi ích cho dân, cho Tổ quốc ta đều là bạn. Bất kỳ ai làm điều gì có hại cho Nhân dân và Tổ quốc ta tức là kẻ thù. Đối với mình, những tư tưởng và hành động có lợi ích cho Tổ quốc, cho đồng bào là bạn. Những tư tưởng và hành động có hại cho Tổ quốc và đồng bào là kẻ thù. Thế là chẳng những ở ngoài, mà chính ở trong mình ta cũng có bạn và thù. Vì vậy chúng ta cần phải ra sức tăng cường bạn ở trong và ở ngoài, kiên quyết chống lại kẻ thù ở ngoài và trong mình ta”(Báo Nhân Dân, 21-1-59).

Người dạy cán bộ ngoại giao: Nguyên tắc thì phải vững chắc, nhưng sách lược thì linh hoạt. Những tư tưởng lớn được phát biểu rất giản dị: Dĩ bất biến, ứng vạn biến; Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào…
Sinh thời, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch có kể một câu chuyện: Năm 1956, ông được cử làm Tổng Lãnh sự ở Ấn Độ. Ông gặp Bác Hồ và hỏi: “Thưa Bác, cháu không có kiến thức gì về ngoại giao. Đến cách dùng dao, dĩa để ăn cũng chưa biết. Bác hãy chỉ giúp cháu phải làm gì?". Bác nói: “Chú thấy người ta làm gì thì mình học theo”. Câu ấy không chỉ bổ ích cho người làm ngoại giao. Cách mạng là làm việc hoàn toàn mới, là phải vượt qua những thử thách chưa từng có, nên chỉ với lòng yêu nước sâu sắc, với tinh thần học hỏi không ngừng, tin vào Đảng, dựa vào dân, vào giúp đỡ bạn bè quốc tế, mọi việc sẽ vượt qua. Trong ngoại giao, bài học 5 biết là một cẩm nang: biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng và biết biến. Khi khó và bí, cứ lấy thật thà ra mà đối đãi, bài học ấy được truyền từ đời này sang đời khác, đến Nguyễn Mạnh Cầm thành một bài học sâu sắc.
Riêng Nguyễn Mạnh Cầm cũng rút ra một phương châm mang tên ông “Đằng sau một nhà ngoại giao là dân tộc”. Nó có ý nghĩa của nguyên lý: Lợi ích dân tộc trên hết và cũng để cổ vũ, tạo điểm tựa, niềm tin cho nhà ngoại giao, rằng anh không bao giờ đơn độc, anh là hiện thân của cả một nền văn hóa, mang sức mạnh của cả một dân tộc để chiến đấu và chiến thắng.
Những việc mà công tác ngoại giao làm được dưới thời đồng chí Nguyên Mạnh Cầm làm Bộ trưởng và Phó Thủ tướng phụ trách đối ngoại làm được đều có ý nghĩa chiến lược:
Ký kết Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, ngày 30 tháng 12 năm 1999. Đây là một thành tựu lịch sử, chấm dứt tranh chấp, xung đột; đặt nền tảng pháp lý, chính trị để hai nước duy trì môi trường hoà bình, ổn định cho sự nghiệp phát triển kinh tế, bảo đảm an ninh, quốc phòng một cách lâu dài, đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân hai nước; mở rộng và củng cố tình hữu nghị Việt - Trung.

Nếu như dưới thời Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch, chúng ta bước đầu phá được thế bao vây cấm vận, thì dưới thời Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Cầm, Việt Nam đã thực hiện thành công đa phương, đa dạng hóa quan hệ: gia nhập ASEAN vào ngày 28 tháng 7 năm 1995; tham gia sáng lập Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) năm 1996; trở thành thành viên của Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC - chiếm 38% dân số thế giới, đóng góp 62% GDP và gần 50% thương mại toàn cầu) ngày 15 tháng 11 năm 1998; có quan hệ với 170 nước trên thế giới. Đây là biểu hiện rực rỡ của thắng lợi ngoại giao theo đường lối Đổi mới của Đảng. Tất cả những điều đó, không chỉ nhanh chóng đưa nước ta ra khỏi tình trạng khủng hoảng trầm trọng, kéo dài mà thu hút được rất nhiều nguồn lực từ công nghệ đến vốn (hàng chục tỉ đô la hoặc viện trợ, hoặc vay với lãi suất từ 0,75 đến 2,5 %; góp phần làm tăng trưởng kinh tế đạt khoảng 7-8% trong nhiều năm.
Chiều 30-8-2022, trong buổi Lễ trao Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng cho đồng chí Nguyễn Mạnh Cầm, đồng chí thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước khẳng định:
“Trên bất cứ cương vị nào, đồng chí Nguyễn Mạnh Cầm đều thể hiện rõ vai trò là nhà lãnh đạo có tầm nhìn chiến lược, nhà ngoại giao xuất sắc, đầy bản lĩnh, có đóng góp to lớn vào quá trình mở cửa và hội nhập quốc tế sâu rộng của đất nước, làm tiền đề cho những bước tiến trong hội nhập sâu rộng và toàn diện sau này, đồng thời góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế, tạo cơ sở xây dựng sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam”.
MỘT NHÀ VĂN, DỊCH GIẢ CHƯA PHÁT LỘ HẾT TÀI NĂNG
Một người có thể có rất nhiều khả năng, có thể phát triển theo nhiều hướng, nhưng thời gian vật chất giới hạn không cho phép con người phát huy hết mọi khả năng của mình.
Chúng ta biết rằng, Liên Xô và các nước XHCN đã giúp đỡ Việt Nam rất nhiều vũ khí và của cải trong hai cuộc kháng chiến.

Nhưng còn có một sự ủng hộ to lớn về mặt tinh thần, đó là VHNT, đặc biệt là văn học Nga - Xô viết. Những Chiến tranh và hòa bình, Người mẹ, Sông Đông êm đềm, Đội cận vệ thanh niên, Thép đã tôi thế đấy; Chuyện một người chân chính…; những tùy bút của Ê-ren bua; những bài thơ của Xi-mô-nốp… đã bồi dưỡng phẩm chất anh hùng của biết bao thế hệ thanh niên Việt Nam. Trong đó phải kể đến một truyện ngắn nổi tiếng của Sô-lô-khốp “Số phận con người” viết năm 1956. Truyện kể về An-đrây Xô-cô-lốp, một chiến sĩ lái xe của Hồng quân Liên Xô trong thế chiến thứ hai, bị bắt làm tù binh, nhưng vẫn giữ vững khí tiết, danh dự của người chiến sĩ Hồng quân. Điều đáng nói hơn, sau khi trốn khỏi trại tập trung, về đến được hậu phương thì vợ con ông đã chết bom, cả người con trai đại úy A-na-tô-li đáng tự hào cũng chết trận… Đau thương đến tột cùng, và dù “mang nỗi buồn sâu thẳm” đã không quật ngã được anh. Trên đường, gặp cậu bé Va-ni-a cũng mất hết người thân, ông nhận là bố của bé và hai người viết tiếp những chương đời trong tình yêu thương.
Truyện tuy ngắn, nhưng mang dung lượng sử thi đồ sộ, toát lên một tính cách Nga, một tư tưởng lớn: Nhân dân Liên Xô và con người nói chung, có thể chiến thắng đau thương, chết chóc và mọi hủy diệt của chiến tranh! Năm 1959, tác phẩm đã được dựng thành phim và tạo được tiếng vang lớn trên thế giới.
Chính Nguyễn Mạnh Cầm đã dịch truyện ngắn đặc sắc này sang Tiếng Việt, góp phần tạo nên niềm tin, sức mạnh cho nhiều thế hệ.
Nguyễn Mạnh Cầm từng ấp ủ dành những năm tháng nghỉ hưu để viết. Ông là tác giả của cuốn sách “Đổi mới về đối ngoại và hội nhập quốc tế” do NXB CTQG xuất bản năm 2009. Không biết ông còn những bản thảo tác phẩm văn học nào, nếu có, tôi tin đó sẽ là những cuốn sách hay, sâu sắc tính nhân văn kiểu “Số phận con người” và như chính cuộc đời ông…