Làm rõ quan hệ giữa 4 trụ cột và 7 nhóm nhiệm vụ
ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú tán thành sự cần thiết tích hợp thực chất 4 chương trình mục tiêu quốc gia thành một chương trình tổng thể nhằm sử dụng nguồn lực có hiệu quả, tạo điều kiện tổ chức đầu tư đồng bộ trên cùng địa bàn, tăng quyền chủ động và trách nhiệm quản lý, tổ chức thực hiện của bộ, ngành và địa phương; đồng thời chuyển mạnh từ quản lý theo quy trình sang quản lý theo kết quả đầu ra.
Góp ý khoản 7 Điều 1 về quan hệ giữa 4 trụ cột và 7 nhóm nhiệm vụ, đại biểu cho biết: dự thảo Nghị quyết của Quốc hội trình bày 4 nhóm nhiệm vụ trọng tâm theo 4 chương trình trước khi hợp nhất; dự thảo Nghị quyết của Chính phủ tổ chức thành 7 nhóm nhiệm vụ. Báo cáo thẩm tra xác định cách thể hiện này chưa rõ, khó giám sát; yêu cầu làm rõ quan hệ trong hệ thống chỉ tiêu, phân bổ nguồn lực và báo cáo kết quả.
Theo đại biểu, khoản 7 chưa dẫn chiếu rõ nhiệm vụ, chính sách bắt buộc và sản phẩm đầu ra; chưa tách phần chính sách đặc thù đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi với yêu cầu ưu tiên xuyên suốt. Nếu chỉ dồn nội dung này vào một nhóm riêng, các nhóm nhiệm vụ về hạ tầng, giáo dục, y tế, văn hóa có thể không theo dõi được mức thụ hưởng của đồng bào.
Dự thảo cũng chưa có nhóm nhiệm vụ dùng chung về dữ liệu, giám sát và đánh giá nên khoản 8 thiếu cấu trúc dữ liệu để đo lường kết quả theo nhiệm vụ, nguồn vốn, địa bàn và đối tượng. "Nếu không xác định rõ điều này, một sản phẩm có thể được ghi ở nhiều nhóm; từ đó có thể phát sinh tình trạng bố trí trùng vốn, bỏ sót nhiệm vụ hoặc không xác định được cơ quan chịu trách nhiệm cuối cùng", đại biểu nhấn mạnh.
Từ đó, ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú đề nghị nghiên cứu điều chỉnh khoản 7 theo 7 nhóm nhiệm vụ; đồng thời bảo đảm nguyên tắc “một nhiệm vụ - một nhóm chủ trì - một sản phẩm chính - một nguồn vốn chủ trì” và theo dõi riêng các ưu tiên đối với vùng đồng bào DTTS và miền núi trong cả 7 nhóm.
Đối với điểm a về nông thôn mới, giảm nghèo và vùng đồng bào DTTS và miền núi, đại biểu cho rằng: dự thảo giữ 3 định hướng cốt lõi, gồm xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo đa chiều và phát triển toàn diện vùng đồng bào DTTS và miền núi; đồng thời nhấn mạnh kinh tế xanh, thu nhập, bình đẳng giới và bản sắc văn hóa.
Tuy nhiên, nội dung này bao trùm hạ tầng, sản xuất, sinh kế, an sinh, văn hóa và chính sách dân tộc nhưng chưa phân định rõ ranh giới. Dự thảo cũng chưa nêu rõ các vấn đề thiết yếu phải được bảo toàn, như đất ở, đất sản xuất, nhà ở, nước sinh hoạt, bố trí dân cư, hạ tầng đặc thù, dân tộc rất ít người, bảo vệ rừng và người có uy tín.
Đại biểu đề nghị nghiên cứu tách thành ba nhóm: hạ tầng - môi trường; sản xuất - sinh kế - việc làm - thu nhập; chính sách đặc thù đối với vùng đồng bào DTTS và miền núi. Cùng với đó, cần bổ sung yêu cầu đo lường thu nhập sau hỗ trợ, việc làm bền vững và mức thiếu hụt dịch vụ.
Đối với điểm b về bảo tồn và phát triển văn hóa, đại biểu đề nghị bổ sung rõ nguyên tắc “bảo tồn gắn với phát huy giá trị và phát triển kinh tế - xã hội”. Không nên chỉ hỗ trợ kiểm kê, sưu tầm, phục hồi lễ hội, truyền dạy mà cần quy định việc biến tài nguyên văn hóa thành sản phẩm văn hóa, du lịch, giáo dục, thương mại và công nghiệp sáng tạo. Đồng thời, cần bổ sung vai trò chủ thể của cộng đồng trong phát triển văn hóa.
ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú đề nghị nghiên cứu bổ sung các sản phẩm tối thiểu, gồm: thiết chế được vận hành; di sản được bảo tồn theo hồ sơ khoa học; cộng đồng, nghệ nhân tham gia và được hưởng lợi; dữ liệu số có chủ thể quản lý và quyền khai thác; dự án công nghiệp văn hóa có sản phẩm, thị trường và giá trị gia tăng. Khoảng cách thụ hưởng văn hóa cũng cần được đo lường theo địa bàn và nhóm dân cư.
Về tổng nguồn lực, cơ cấu vốn và hiệu quả sử dụng, đại biểu cho biết: dự thảo mới nêu tổng nguồn lực và giao Chính phủ quyết định cơ cấu. Đại biểu đề nghị ghi rõ 5 cấu phần nguồn lực và cơ cấu vốn ngân sách trung ương trong Nghị quyết của Quốc hội. Chính phủ được điều chỉnh chi tiết nhưng không làm thay đổi tổng vốn đầu tư, mục tiêu, đối tượng, chính sách bắt buộc, mức hỗ trợ tối thiểu và mức độ ưu tiên.
Quản lý theo chuỗi đầu vào - sản phẩm - kết quả - tác động
Góp ý khoản 8, Điều 1 về đánh giá kết quả đầu ra, ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú cho biết: dự thảo sử dụng phương pháp chấm điểm theo mục tiêu, tiến độ, giải ngân, việc chấp hành chế độ báo cáo và sự hài lòng của Nhân dân.
Tuy nhiên, theo đại biểu, giải ngân cao chưa đồng nghĩa với chính sách thành công. Có thể giải ngân hết vốn nhưng công trình ít được sử dụng, thu nhập không tăng, chất lượng giáo dục và y tế không được cải thiện hoặc quyền thụ hưởng thấp.
Vì vậy, đại biểu đề nghị quản lý theo chuỗi đầu vào - sản phẩm - kết quả - tác động. Trong đó, đầu vào gồm vốn và nhân lực; sản phẩm là công trình, dịch vụ; kết quả là những thay đổi thực tế về thu nhập, việc làm, tiếp cận giáo dục, y tế, văn hóa, nước sạch và chất lượng sống, giảm nghèo đa chiều, thu hẹp chênh lệch.
Từ cách tiếp cận này, ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú đề nghị nghiên cứu chỉnh sửa tiêu chí đánh giá kết quả đầu ra theo 3 nhóm: kết quả chính sách và mức cải thiện; chất lượng, tính bền vững và mức tiếp cận của đối tượng; tiến độ, giải ngân và báo cáo.
Dữ liệu đánh giá phải được phân tách tối thiểu theo nhóm mục tiêu hoặc lĩnh vực, nguồn vốn, địa bàn, đối tượng thụ hưởng, giới tính, dân tộc, nhóm tuổi, tình trạng khuyết tật và mức sống.
Đối với dự kiến Nghị quyết của Chính phủ, đại biểu tập trung góp ý Điều 7 về phát triển kinh tế nông thôn, sản xuất, sinh kế, việc làm và thu nhập. Điều 7 hiện gồm 6 nhóm. Theo đại biểu, cấu trúc này về cơ bản hợp lý vì bao quát được chuỗi “sản xuất - chế biến - thị trường - việc làm - thu nhập”, thay vì chia thành nhiều dự án, tiểu dự án như trước.
Tuy nhiên, cần xác định rõ hoạt động hỗ trợ phải tạo ra kết quả, không chỉ hỗ trợ đầu vào. Đại biểu đề nghị bổ sung nguyên tắc: “Hoạt động hỗ trợ phát triển sản xuất phải gắn với sản phẩm đầu ra, khả năng tiêu thụ, tạo việc làm hoặc tăng thu nhập cho đối tượng thụ hưởng; ưu tiên dự án có liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ ổn định và khả năng duy trì sau thời gian hỗ trợ”.
Đại biểu cũng đề nghị làm rõ chính sách riêng đối với vùng đồng bào DTTS và miền núi. Điều 11 hiện quy định các nội dung tại Điều 7 được ưu tiên thực hiện tại vùng đồng bào DTTS và miền núi, đồng thời có thêm một số chính sách đặc thù. Tuy nhiên, một số nội dung rất có ý nghĩa như phát triển dược liệu quý, kinh tế dưới tán rừng, sản phẩm bản địa, sinh kế gắn với bảo vệ rừng chưa được thể hiện rõ trong Điều 7.
Vì vậy, ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú đề nghị bổ sung vào khoản 1 hoặc khoản 5 Điều 7 nội dung: “Ưu tiên phát triển sản phẩm bản địa, vùng dược liệu, kinh tế nông - lâm nghiệp dưới tán rừng, sinh kế gắn với quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tại vùng đồng bào DTTS và miền núi”.



