Nhiều chính sách hỗ trợ phát triển nông, lâm nghiệp
Cử tri đề nghị các cấp có thẩm quyền tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển nông, lâm nghiệp; hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi chất lượng cao phù hợp với điều kiện địa phương; đẩy mạnh chuyển giao khoa học kỹ thuật, phát triển sản xuất theo hướng an toàn, hữu cơ; mở rộng nguồn vốn ưu đãi để người dân đầu tư sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế.
Tiếp thu kiến nghị, UBND tỉnh cho biết thời gian qua đã trình HĐND tỉnh ban hành nhiều chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn. Trong đó, Nghị quyết số 34/2025/NQ-HĐND ngày 12/12/2025 quy định một số chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026 - 2030 với nhiều mức hỗ trợ cụ thể như: hỗ trợ 80% giá giống cam, dứa, chè; vật tư phối giống nhân tạo để tạo giống chất lượng cao; mua giống bò đực giống, giống nái ngoại cho các trang trại ứng dụng công nghệ cao, trong đó mức hỗ trợ giống nái ngoại lên tới 18 triệu đồng/con; hỗ trợ 80% chi phí mua mầm mô cây giống lâm nghiệp chất lượng, 80% chi phí chứng nhận hữu cơ lần đầu và 50% giá trị máy cấy, máy gieo hạt, máy bay không người lái phục vụ phun thuốc, bón phân.
Nghị quyết số 13/2018/NQ-HĐND về khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp quy định hỗ trợ 100% chi phí tư vấn xây dựng liên kết, tối đa 200 triệu đồng; hỗ trợ 30% vốn đầu tư máy móc, hạ tầng phục vụ sơ chế, bảo quản; các hộ dân tham gia liên kết được hỗ trợ 50% chi phí giống, vật tư, bao bì. Đối với đầu tư máy móc, trang thiết bị, nhà xưởng, bến bãi, kho tàng phục vụ liên kết, tổng mức hỗ trợ không quá 4 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, Nghị quyết số 06/2025/NQ-HĐND ngày 28/4/2025, được sửa đổi tại Nghị quyết số 22/2025/NQ-HĐND ngày 03/11/2025, quy định hỗ trợ 80% giá giống lúa; 80% kinh phí áp dụng công nghệ, tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và hỗ trợ các mô hình khuyến nông, liên kết chuỗi giá trị trong sản xuất lúa.
Đẩy mạnh nông nghiệp hữu cơ, ứng dụng công nghệ cao
Để đẩy mạnh chuyển giao khoa học kỹ thuật, phát triển sản xuất theo hướng an toàn, hữu cơ, UBND tỉnh đã ban hành các đề án về phát triển, mở rộng diện tích cây ăn quả gắn với công nghiệp chế biến, tiêu thụ sản phẩm giai đoạn 2021 - 2030; phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2022 - 2030; phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông, lâm sản trọng tâm thuộc hành lang kinh tế đường Hồ Chí Minh đến năm 2030.
Thông qua các kế hoạch, đề án sản xuất và hoạt động khuyến nông hằng năm, ngành Nông nghiệp và Môi trường đang đẩy mạnh chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, khoa học công nghệ, khuyến khích người dân, doanh nghiệp ứng dụng giống chất lượng, cơ giới hóa, công nghệ cao, tự động hóa trong sản xuất, thu hoạch, chế biến; áp dụng các quy trình hữu cơ, VietGAP, GlobalGAP, giảm phát thải, tuần hoàn… hướng tới sản xuất bền vững.
Về nguồn vốn ưu đãi, chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện được triển khai theo Nghị định số 156/2025/NĐ-CP ngày 16/6/2025 của Chính phủ và Thông tư số 29/2025/TT-NHNN ngày 30/9/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh khu vực 8 chủ trì, phối hợp các cơ quan, đơn vị, địa phương tổ chức thực hiện, tuyên truyền, phổ biến các chính sách tín dụng để người dân tiếp cận.
Quyết liệt xử lý các dự án treo, chậm tiến độ
Liên quan đến kiến nghị của cử tri về tích cực thu hút nhà đầu tư, sớm giải quyết các dự án treo, chậm tiến độ và quan tâm đưa người dân vào nơi tái định cư để ổn định cuộc sống, UBND tỉnh cho biết những năm qua, Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh đã quyết liệt chỉ đạo xử lý các dự án treo, dự án chậm tiến độ.
Tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 01/6/2023 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quản lý dự án đầu tư có sử dụng đất; Nghị quyết số 31/NQ-HĐND ngày 14/7/2022 của HĐND tỉnh về tăng cường quản lý nhà nước đối với dự án treo, dự án chậm tiến độ và dự án sử dụng đất không đúng mục đích; Quyết định số 2156/QĐ-UBND ngày 25/7/2022 về quy chế phối hợp quản lý dự án cùng các kế hoạch triển khai liên quan.
Hằng năm, các sở, ngành, địa phương thực hiện rà soát để kịp thời phát hiện, xử lý các dự án chậm tiến độ, gặp khó khăn, vướng mắc. Đến nay, các đoàn liên ngành do UBND tỉnh thành lập đã thực hiện 996 lượt kiểm tra đối với 689 dự án; chấm dứt hoạt động 193 dự án và cho phép gia hạn 247 dự án. Các khu đất của dự án bị chấm dứt hoạt động được giao UBND cấp xã hoặc Trung tâm phát triển quỹ đất quản lý để tiếp tục thu hút đầu tư, đấu giá quyền sử dụng đất theo quy định.
Thời gian tới, UBND tỉnh tiếp tục chỉ đạo rà soát, giải quyết các dự án chậm tiến độ, tồn đọng kéo dài theo Chỉ thị số 16-CT/TU ngày 19/3/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, chỉ đạo của Ban Chỉ đạo theo Quyết định số 707-QĐ/TU ngày 20/3/2026, Kế hoạch số 266/KH-UBND ngày 15/4/2026 và Văn bản số 14549/UBND-CN ngày 25/12/2025 của UBND tỉnh.
Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, đẩy nhanh các dự án trọng điểm
Công tác thu hút đầu tư thời gian qua đạt nhiều kết quả đáng kể, đặc biệt nguồn vốn FDI thuộc nhóm các địa phương dẫn đầu. Năm 2022, Nghệ An thu hút mới 116 dự án, tổng vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm 45.764,5 tỷ đồng, trong đó FDI đạt 538,1 triệu USD; năm 2023 thu hút 120 dự án, tổng vốn 58.123 tỷ đồng, FDI đạt 1.605,5 triệu USD; năm 2024 thu hút 89 dự án, tổng vốn 66.912,3 tỷ đồng, FDI đạt 1.745,2 triệu USD; năm 2025 thu hút 78 dự án, tổng vốn 42.982,7 tỷ đồng, FDI đạt 1.020,31 triệu USD.
Trong 5 tháng đầu năm 2026, tính đến ngày 15/5, tỉnh thu hút 20 dự án mới, tổng vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm đạt 66.968,80 tỷ đồng, trong đó vốn FDI đạt 788,03 triệu USD.
Thời gian tới, UBND tỉnh tiếp tục chỉ đạo các sở, ngành, địa phương cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh; tập trung hỗ trợ, đẩy nhanh tiến độ các dự án lớn, dự án trọng điểm, qua đó tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và thu hút thêm các dự án đầu tư.



