Việc phân bổ vốn cần căn cứ nhu cầu, khả năng cân đối ngân sách và điều kiện thực hiện; không để những địa bàn vốn đã khó khăn, năng lực giải ngân còn hạn chế lại bị giảm nguồn lực.
Khắc phục tình trạng nguồn lực bị chia nhỏ, phân tán
Phát biểu tại Tổ 7 (gồm các Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An và Lâm Đồng) sáng 19/8 về việc tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia thành 1 chương trình mục tiêu quốc gia, ĐBQH Trần Đức Thuận (Nghệ An) cho rằng: mặc dù có mục tiêu và nguồn vốn khác nhau, 4 chương trình mục tiêu quốc gia có những điểm tương đồng, liên hệ chặt chẽ, nhất là khi triển khai tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Vì vậy, việc hợp nhất là cần thiết để khắc phục tình trạng nguồn lực bị chia nhỏ, phân tán qua nhiều chương trình.
Theo đại biểu, mô hình phù hợp là “một chương trình, nhiều mục tiêu; một cơ chế quản trị, một cơ chế giám sát”. Nguồn lực được tập trung sẽ tạo điều kiện điều chỉnh giữa các mục tiêu cho phù hợp với thực tiễn, tránh tình trạng nơi thực sự cần lại không có nguồn lực, trong khi nơi không còn nhu cầu cấp thiết vẫn được bố trí vốn.
Tuy nhiên, Chính phủ cần đánh giá sâu, kỹ kết quả 5 năm thực hiện các chương trình; làm rõ những việc đã làm được và chưa làm được, những hạn chế, vướng mắc, bất cập cần khắc phục. Chương trình sau hợp nhất phải phát huy kết quả đạt được, đồng thời khắc phục những tồn tại để nâng cao hiệu quả đầu tư và sử dụng nguồn lực.
“Hợp nhất không phải là cộng lại”, đại biểu nhấn mạnh và đề nghị xác định rõ mục tiêu, cơ chế quản trị, giám sát cũng như phạm vi phân cấp, phân quyền. Phân cấp phải tạo được sự chủ động cho địa phương, cho phép điều chỉnh một số mục tiêu cụ thể phù hợp với nhu cầu thực tế. Có địa phương không còn cần ưu tiên nhiều cho xây dựng nông thôn mới nhưng lại có những mục tiêu khác cấp thiết hơn. Nếu cơ cấu sử dụng vốn quá cứng nhắc, nguồn lực có thể không đáp ứng đúng yêu cầu của từng địa bàn.
Phân bổ theo khả năng ngân sách, hỗ trợ địa bàn khó khăn
Về cơ cấu nguồn vốn, đại biểu Trần Đức Thuận cho rằng, chương trình được thực hiện từ ngân sách trung ương, ngân sách địa phương và nguồn đóng góp của xã hội, nhưng không thể áp dụng một tỷ lệ cứng cho tất cả. Khả năng cân đối ngân sách giữa các địa phương rất khác nhau: có địa phương đã tự chủ, có nguồn thu và tiềm lực lớn; trong khi nhiều địa phương vẫn cần ngân sách trung ương hỗ trợ.
Do đó, quá trình phân bổ vốn phải rà soát kỹ đặc điểm, điều kiện và khả năng ngân sách của từng địa phương. Những địa phương có khả năng tự cân đối nên chủ động sử dụng ngân sách của mình để thực hiện chương trình; nguồn lực Trung ương cần tập trung cho các tỉnh còn khó khăn. Đại biểu đề nghị dự thảo Nghị quyết làm rõ nguyên tắc này, tránh phân bổ bình quân hoặc áp dụng cùng một tỷ lệ đối ứng cho mọi địa phương.
Cùng với nguồn lực nhà nước, cần thiết kế cơ chế xã hội hóa minh bạch, tạo điều kiện để “tỉnh giàu hỗ trợ tỉnh khó khăn, xã giàu hỗ trợ xã nghèo, người giàu hỗ trợ người nghèo”. Đại biểu dẫn lại cơ chế đặc thù đã được Quốc hội cho phép Nghệ An vận động nguồn lực từ những địa phương có điều kiện để hỗ trợ thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững.
Theo đại biểu, nhiều tổ chức, cá nhân sẵn sàng chia sẻ với người nghèo nhưng còn băn khoăn liệu nguồn hỗ trợ có đến đúng đối tượng, được sử dụng đúng mục đích hay không. Vì vậy, xã hội hóa không nên mang tính bắt buộc mà cần được khuyến khích trên cơ sở công khai, minh bạch về địa chỉ, nhu cầu và mục tiêu hỗ trợ. Khi thông tin rõ ràng, nguồn lực xã hội sẽ có điều kiện đến trực tiếp những địa bàn, hộ gia đình và công trình thực sự cần thiết.
Một nội dung khác được đại biểu đặc biệt lưu ý là mối quan hệ giữa thực hiện chương trình với củng cố quốc phòng, an ninh. Các Chương trình mục tiêu quốc gia không chỉ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội mà còn góp phần nâng cao đời sống, dân trí, tạo việc làm và củng cố niềm tin của Nhân dân, nhất là tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và địa bàn khó khăn.
Đại biểu đề nghị Nghị quyết quy định rõ nguyên tắc thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia phải gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, đặc biệt tại các địa bàn trọng điểm. Khi đầu tư một chương trình hoặc dự án, cấp ủy, chính quyền không chỉ đánh giá tác động về kinh tế, an sinh xã hội mà còn phải xem xét tác động đối với quốc phòng, an ninh. Đời sống Nhân dân được cải thiện, niềm tin vào đường lối, chủ trương của Đảng được nâng lên sẽ góp phần củng cố “thế trận lòng dân”, qua đó củng cố thế trận quốc phòng và thế trận an ninh.
Để tránh đầu tư dàn trải và chậm phát huy hiệu quả, đại biểu Trần Đức Thuận cho rằng: cần tính đến sự chênh lệch về năng lực thực hiện giữa các địa phương. Thực tế có nơi giải ngân tốt, nhưng cũng có địa phương giải ngân chậm dù nhu cầu đầu tư rất thiết yếu. Bên cạnh vướng mắc về cơ chế, chính sách, nguyên nhân còn xuất phát từ trình độ, năng lực không đồng đều của đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở.
Vì vậy, không nên áp dụng máy móc theo hướng địa phương giải ngân tốt thì tiếp tục được phân bổ nhiều, còn địa phương vốn đã khó khăn, năng lực triển khai hạn chế, giải ngân chậm lại bị phân bổ ít hơn. Thay vào đó, cần xác định rõ từng vướng mắc; hỗ trợ đào tạo, nâng cao năng lực và tăng cường nhân lực cho những địa phương chưa đáp ứng yêu cầu. Có trường hợp cán bộ không muốn làm chậm nhưng do nhận thức, kinh nghiệm và năng lực còn hạn chế nên chưa thể hoàn thành thủ tục, triển khai dự án đúng tiến độ.
“Chậm ngày nào là người dân khổ ngày đó”, đại biểu Trần Đức Thuận nhấn mạnh; đồng thời cho biết, nguồn vốn đã được bố trí để làm đường, xây trường học hoặc thực hiện những công trình thiết yếu nhưng không giải ngân kịp thời vừa khiến người dân chậm được thụ hưởng, vừa gây lãng phí... Vì vậy, cùng với phân bổ vốn, cần có chính sách hỗ trợ địa phương tháo gỡ khó khăn, củng cố đội ngũ thực hiện, bảo đảm các dự án được triển khai nhanh, kịp thời và hiệu quả, thực sự góp phần nâng cao đời sống Nhân dân.



