Đoàn giám sát tập trung khảo sát thực tế việc quản lý, sử dụng đất, rừng sau khi được giao; tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ sinh kế và những khó khăn, vướng mắc tại cơ sở.
Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn
Ba xã Mỹ Lý, Yên Hòa và Châu Khê đều là địa bàn miền núi có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số rất cao, diện tích đất lâm nghiệp lớn, đời sống người dân gắn chặt với rừng. Mỹ Lý có hơn 97,85% dân số là đồng bào DTTS, tỷ lệ hộ nghèo 52,9%; Yên Hòa có đồng bào DTTS chiếm 97,87%, độ che phủ rừng 86,4%; Châu Khê có diện tích tự nhiên hơn 54,4 nghìn ha, diện tích có rừng trên 50,9 nghìn ha, độ che phủ rừng 93,63% và hơn 25 km đường biên giới tiếp giáp nước bạn Lào.
Với đặc thù ấy, công tác quản lý, sử dụng đất đai và thực hiện chính sách giao đất, giao rừng, khoán bảo vệ rừng ở các địa phương này không chỉ là công tác về trình tự thủ tục giải quyết hồ sơ cho các đối tượng được thụ hưởng chính sách. Đó còn là sinh kế, thu nhập, ổn định dân cư, bảo vệ rừng và cả giữ vững địa bàn biên giới.
Vì vậy, Đoàn giám sát dành thời gian khảo sát trực tiếp tại các khu vực giao đất, giao rừng, khoanh nuôi, bảo vệ rừng, điểm dân cư và mô hình sinh kế; trao đổi với cán bộ cơ sở, cộng đồng và người dân để đối chiếu với số liệu báo cáo. Cách làm này giúp hoạt động giám sát không dừng ở việc “đọc báo cáo”, mà đi vào hiệu quả cuối cùng của chính sách: người dân có đất nhưng có sử dụng được hay không; được giao rừng nhưng quyền lợi có gắn với trách nhiệm bảo vệ rừng hay không; được hỗ trợ sinh kế nhưng mô hình có duy trì được sau khi hết nguồn hỗ trợ hay không.
Đoàn giám sát trao đổi với hộ được giao rừng; tìm hiểu một số mô hình sinh kế.
Rừng đã trở thành nguồn lực, nhưng hiệu quả giữa các địa bàn chưa đồng đều
Tại Mỹ Lý, địa phương đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho 82/82 hộ DTTS có nhu cầu; giao 1.632,188 ha đất rừng sản xuất cho 82 hộ và 6 cộng đồng bản. Giai đoạn 2021 - 2025, tổng diện tích khoán bảo vệ rừng và chi trả dịch vụ môi trường rừng lũy kế đạt trên 49 nghìn ha, với hơn 21 tỷ đồng được giải ngân, chi trả. Đáng chú ý, qua rà soát với Ban Quản lý rừng phòng hộ Kỳ Sơn, khoảng 4.493,14 ha được xác định để thực hiện thủ tục bàn giao về địa phương; nếu hoàn thiện đầy đủ hồ sơ pháp lý, ranh giới và phương án sử dụng, đây có thể là nguồn quỹ đất quan trọng để giải quyết nhu cầu sản xuất, giao đất, giao rừng cho người dân.
Ở Yên Hòa, tổng diện tích đã giao đất, giao rừng là 4.755,02 ha cho 624 đối tượng, gồm 616 hộ gia đình, cá nhân và 8 cộng đồng. Xã đã triển khai 17 mô hình sinh kế với 779 hộ tham gia. Tuy nhiên, 4 mô hình được báo cáo không thành công hoặc hiệu quả thấp, gồm Bo Bo, Sa nhân tím, Chuối lấy lá và Ba kích tím, cho thấy yêu cầu phải lựa chọn mô hình sát điều kiện khí hậu, kỹ thuật và thị trường tiêu thụ.
Tại Châu Khê, hơn 8.260 ha đất có rừng đã được giao cho 1.342 hộ gia đình và 13 cộng đồng bản; diện tích khoán bảo vệ rừng hằng năm gần 7.000 ha, chi trả dịch vụ môi trường rừng trên 15.000 ha. Các mô hình chăn nuôi trâu, bò sinh sản, gà đen an toàn sinh học đã hỗ trợ 499 hộ DTTS; theo báo cáo, thu nhập bình quân của các hộ tham gia tăng khoảng 24,87 triệu đồng/hộ/năm.
Nghị quyết số 32/2024/NQ-HĐND: cần tháo gỡ từ bài toán quỹ đất
Một vấn đề nổi lên qua giám sát tại cả ba địa phương là việc triển khai Nghị quyết số 32/2024/NQ-HĐND của HĐND tỉnh về chính sách đất đai đối với đồng bào DTTS còn chậm so với nhu cầu thực tế, nhất là đất ở, đất sản xuất và đất phục vụ sinh hoạt cộng đồng. Phần lớn mới dừng ở tuyên truyền, rà soát, xác định đối tượng và nhu cầu; việc bố trí đất trên thực tế còn rất hạn chế. Điều đó cho thấy điểm nghẽn không chỉ nằm ở thủ tục hay kinh phí, mà căn bản hơn là thiếu quỹ đất công, thiếu mặt bằng ổn định, an toàn và phù hợp để tổ chức thực hiện chính sách.
Từ thực tiễn này, kiến nghị căn bản nhất là tỉnh và các cơ quan có thẩm quyền cần đặt nhiệm vụ tạo quỹ đất thực tế làm khâu đột phá trong triển khai Nghị quyết số 32/2024/NQ-HĐND. Cần rà soát tổng thể quỹ đất công; đất do các tổ chức, ban quản lý, doanh nghiệp nông - lâm nghiệp đang quản lý nhưng sử dụng chưa hiệu quả; diện tích sau sắp xếp, điều chỉnh có khả năng bàn giao về địa phương; đồng thời xác định các khu vực có thể bố trí đất ở, đất sản xuất và đất sinh hoạt cộng đồng. Riêng đất ở phải gắn với vị trí ổn định, an toàn trước thiên tai, có khả năng đầu tư hạ tầng thiết yếu và phù hợp quy hoạch dân cư.
Về lâu dài, cần nghiên cứu một cơ chế, chính sách đồng bộ cho phép các địa phương rà soát, phân loại quỹ đất lâm nghiệp theo hiện trạng và hiệu quả sử dụng. Đối với một số diện tích đất lâm nghiệp có rừng nghèo, giá trị kinh tế thấp, sau khi đánh giá đầy đủ về chức năng phòng hộ, bảo tồn, đa dạng sinh học, quy hoạch và bảo đảm các điều kiện theo quy định pháp luật, cần nghiên cứu cơ chế xem xét chuyển mục đích sử dụng một phần diện tích phù hợp sang đất sản xuất. Qua đó, tạo thêm quỹ đất sản xuất cho Nhân dân, nhất là đồng bào DTTS đang thiếu tư liệu sản xuất; đồng thời việc giao đất phải gắn với phương án sinh kế, hỗ trợ kỹ thuật và tổ chức sản xuất để đất được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả và bền vững.
Mỗi địa phương một “nút thắt” cần tháo gỡ
Qua giám sát, điểm chung nổi lên là hồ sơ đất đai qua nhiều thời kỳ còn thiếu đồng bộ, bản đồ địa chính chưa hoàn thiện, ranh giới một số diện tích đất rừng ngoài thực địa chưa thật sự rõ; việc xác định nhu cầu đất ở, đất sản xuất và hiệu quả một số mô hình sinh kế còn chưa sát thực tế.
Ở Mỹ Lý, báo cáo xác định 115 hộ DTTS thiếu đất ở, trong khi nhu cầu đất sản xuất cần tiếp tục rà soát thực tế tại các bản. Tại Yên Hòa, còn 471 thửa chưa hoàn thành thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận; trong đó 139 thửa đủ điều kiện, 303 thửa chưa đủ điều kiện. Châu Khê còn 296 hồ sơ cấp Giấy chứng nhận tồn đọng, trong đó 282 trường hợp được báo cáo đủ điều kiện nhưng chưa được cấp; địa phương cũng đã lập danh sách 232 hộ DTTS thiếu đất sản xuất nhưng chưa xác định cụ thể diện tích cần bố trí. Những con số này cho thấy yêu cầu phải chuyển từ thống kê nhu cầu sang xác định rõ quỹ đất, vị trí, diện tích, trách nhiệm và tiến độ giải quyết.
Đoàn giám sát đề nghị các địa phương tiếp tục chuẩn hóa hồ sơ, số liệu; phân loại rõ từng trường hợp tồn đọng về đất đai để xác định trách nhiệm, thẩm quyền và tiến độ giải quyết. Đối với diện tích đất, rừng đã giao, yêu cầu không chỉ là hoàn thành hồ sơ mà phải quản lý được ngoài thực địa; những khu vực chưa rõ ranh giới, mốc giới cần được đo đạc, cắm mốc, chỉnh lý. Việc khoán bảo vệ rừng, chi trả dịch vụ môi trường rừng phải đúng đối tượng, công khai, minh bạch, để quyền lợi của người dân gắn chặt với trách nhiệm bảo vệ rừng.
Nhân dịp này Đoàn Giám sát cũng đã trao tặng 20 suất học bổng cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn tại xã Mỹ Lý
Với các mô hình sinh kế, cần đánh giá bằng hiệu quả sau đầu tư, không chạy theo số lượng. Mô hình không phù hợp về khí hậu, kỹ thuật hoặc không có thị trường tiêu thụ phải được điều chỉnh; ưu tiên những mô hình có khả năng tạo thu nhập ổn định, gắn với lợi thế bản địa, có hỗ trợ kỹ thuật và liên kết tiêu thụ. Thu nhập thực tế, số hộ thoát nghèo và khả năng duy trì sau hỗ trợ phải trở thành thước đo quan trọng của chính sách.
Qua giám sát tại Mỹ Lý, Yên Hòa và Châu Khê cho thấy, bên cạnh những kết quả tích cực về giao đất, giao rừng, bảo vệ rừng và hỗ trợ sinh kế, vẫn còn những khoảng trống cần tiếp tục tháo gỡ. Giá trị của hoạt động giám sát vì vậy không chỉ ở việc chỉ ra những hồ sơ còn chậm hay số liệu chưa đầy đủ, mà quan trọng hơn là nhận diện đúng “điểm nghẽn” để chính sách sát hơn với đời sống. Khi đất và rừng thực sự trở thành tư liệu sản xuất, người dân có thu nhập ổn định từ việc giữ rừng, mục tiêu bảo vệ tài nguyên, giảm nghèo bền vững và giữ vững vùng biên giới mới được kết nối thành một chuỗi chính sách thống nhất.
Thời gian tới Đoàn giám sát sẽ tiếp tục làm việc với các xã Tam Hợp, xã Nghĩa Lâm và các Sở, ban, ngành liên quan.



