Những mô hình này không chỉ gợi mở hướng phát triển mới, mà còn góp phần khai thác bền vững tiềm năng đất đai miền núi, phù hợp với nhịp chuyển mình của kinh tế vùng cao.

Những mầm xanh mới

Trên những quả đồi thấp của bản Hợp Thành, xã Tương Dương, sắc xanh của những cây dó trầm đang dần phủ lên các vạt đất từng khô cằn. Từ chỗ chỉ mọc tự nhiên trong rừng sâu, dó trầm nay đã trở thành cây trồng cho giá trị kinh tế cao, được bà con mạnh dạn đưa về vườn nhà. Sự “bén duyên” của cây dó với vùng đất này không chỉ nhờ khí hậu phù hợp mà còn từ nỗ lực tìm hướng thoát nghèo của người dân. Gia đình anh Vừ Bá Do ở bản Hợp Thành là một trong những hộ tiên phong. Ba cây trầm hương 10 năm tuổi trong vườn từng được thương lái trả đến cả chục triệu đồng mỗi cây, nhưng anh chưa bán. Từ giá trị đó, năm 2024 anh Do đầu tư mua 500 cây dó trầm giống về trồng quanh đồi và nương rẫy. “Tỷ lệ sống đạt khoảng 300 cây, đang phát triển tốt. Hy vọng khoảng mười năm nữa sẽ có nguồn thu đáng kể,” anh Do chia sẻ. Trong bản Hợp Thành, đã có thêm vài hộ khác cùng thử sức, thậm chí có gia đình trồng đến cả nghìn cây. Theo anh Do chia sẻ, để cây dó hình thành trầm trong tự nhiên có khi phải mất đến mười năm, nhưng nay có kỹ thuật tạo vết thương trên thân cây để kích thích tiết nhựa, rút ngắn thời gian và tăng khả năng tạo trầm. Đây là hướng đi có triển vọng, bởi nhu cầu thị trường đối với tinh dầu và trầm hương luôn ở mức cao.

Những vườn cây dó trầm

Cũng ở Tương Dương, mô hình trồng sắn cao sản được triển khai những năm gần đây đang tạo sự thay đổi tích cực. Nhờ doanh nghiệp chế biến tinh bột sắn đứng ra cung cấp giống, phân bón, hướng dẫn kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm, diện tích sắn của xã tăng nhanh, đạt đến 165 ha. Mỗi năm, hàng trăm tấn sắn tươi được bán cho công ty và thương lái, mang lại nguồn thu lớn cho người dân. Nhiều hộ gia đình khẳng định trồng sắn cao sản giúp họ có thu nhập ổn định hơn so với các loại hoa màu trước đây.

Tại xã Tam Thái, cây hương nhu trắng đang trở thành cây trồng chủ lực mới ở bản Phá Lõm. Hiện toàn bản có 15 hộ đăng ký trồng với diện tích 10 ha, trong đó ông Vi Mạnh Cầm đã trồng thử nghiệm 3 sào. “Cây hương nhu dễ trồng, chịu được đất cằn và có khả năng giữ ẩm. Được dự án hỗ trợ giống, phân bón, kỹ thuật và bao tiêu đầu ra, bà con thêm yên tâm sản xuất”. Theo như cán bộ dự án truyền tải thì chỉ sau 4–6 tháng trồng, hương nhu đã cho thu hoạch lá và cành non làm nguyên liệu tinh dầu. Cây tái sinh mạnh, cho thu hoạch định kỳ 2–3 tháng/lần. Với năng suất trung bình 40 tấn/ha, giá thu mua 1.000 đồng/kg nguyên liệu, cây hương nhu mang lại hiệu quả vượt trội so với ngô, sắn hay đậu xanh. “Chỉ cần chăm sóc kỹ trong tháng đầu, về sau cây gần như tự lớn. Sau mỗi đợt cắt chỉ cần bón thêm ít phân chuồng hoặc NPK,” ông cho biết.

Sinh kế mới từ cây trồng thử nghiệm

Trước đây, húng quế chỉ là loại rau gia vị trồng nhỏ lẻ nhưng từ khi doanh nghiệp chế biến dược liệu thu mua, cây húng quế đã trở thành hàng hóa thực sự tại xã Tiền Phong. Anh Quang Văn Quý, bản Phương Tiến 2, là người đầu tiên thử nghiệm mô hình với 2.000 m² đất vườn. Được hỗ trợ giống, phân bón và kỹ thuật, cây húng quế của anh phát triển đồng đều, cho thu hoạch. Với năng suất 70–80 kg/100 m² và thu nhập 210.000–240.000 đồng/lượt cắt, người dân có thể thu hoạch liên tục ba đợt trước khi trồng mới. Nhờ chi phí đầu tư thấp và quay vòng nhanh, cây húng quế được đánh giá là một trong những cây trồng tiềm năng ở vùng đồi cao.

Từ hiệu quả ban đầu, hiện mô hình trồng húng quế đã triển khai thêm tại bản tái định cư Na Chạng, nâng tổng diện tích toàn xã lên 2.500 m². Ở xã Quế Phong, mô hình thử nghiệm 800 m² cũng đang cho tín hiệu tích cực. Ông Trịnh Xuân Sơn, chủ tịch Hội Nông dân xã Quế Phong cho biết: “Húng quế dễ trồng, thích hợp với nhiều hộ dân. Nếu doanh nghiệp tiếp tục thu mua ổn định, diện tích chắc chắn sẽ mở rộng. Chúng tôi sẽ khuyến khích các xã phát triển mô hình để tận dụng nguồn đất đồi còn bỏ hoang. Nếu được nhân rộng, mô hình trồng húng quế không chỉ giúp người dân tăng thu nhập mà còn góp phần giải quyết việc làm, bảo vệ môi trường, giảm phụ thuộc vào cây lương thực truyền thống”.

Một mô hình nhiều triển vọng khác đang được triển khai tại xã biên giới Tri Lễ là trồng dứa trên đất đồi. Hơn nửa năm bén rễ, cây dứa phát triển tốt, ít sâu bệnh, phù hợp với thổ nhưỡng và khí hậu khắc nghiệt vùng cao. So với chanh leo – một cây từng gây “sốt” nhưng đòi hỏi kỹ thuật cao và chi phí lớn, cây dứa có ưu điểm dễ trồng, đầu tư thấp, rủi ro ít. Ông Nguyễn Cảnh Dật, Trưởng phòng Kinh tế xã Tri Lễ, nhận định: “Quỹ đất của xã còn nhiều, bà con có thể tận dụng đất màu ven đồi, các khu đồi thấp để trồng dứa. Doanh nghiệp cũng cam kết bao tiêu nên đây là hướng đi phù hợp. Nếu mô hình thành công, dứa có thể trở thành cây trồng hàng hóa chủ lực của xã, mang lại hy vọng thoát nghèo cho đồng bào nơi đây”.

Tại xã Tam Quang, tỉnh Nghệ An, người dân trồng mét phủ xanh các cánh rừng. Cây mét mang lại nguồn thu nhập ổn định giúp người dân thoát nghèo bền vững.

Những mô hình cây trồng mới đang xuất hiện trên nhiều xã miền Tây Nghệ An không chỉ là câu chuyện chuyển đổi sinh kế, mà còn cho thấy sự thay đổi trong tư duy sản xuất của người dân. Từ chỗ trông chờ vào cây ngô, cây sắn truyền thống, bà con đã mạnh dạn tiếp nhận giống mới, kỹ thuật mới và liên kết với doanh nghiệp để có đầu ra ổn định. Ở nhiều vùng, quỹ đất đồi cằn cỗi vốn bỏ hoang nhiều năm nay được “đánh thức” bởi những loại cây phù hợp. Dó trầm giúp người dân thấy cơ hội từ cây dược liệu quý; hương nhu và húng quế mở ra hướng phát triển nguyên liệu chế biến tinh dầu; sắn cao sản trở thành cây hàng hóa quy mô lớn; dứa hứa hẹn tạo ra chuỗi giá trị nông sản mới.

Điều quan trọng hơn cả là các mô hình đều gắn với thị trường là yếu tố quyết định tính bền vững. Khi doanh nghiệp đồng hành, cung cấp giống, phân bón, kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm, người dân có thể yên tâm đầu tư sản xuất. Bên cạnh đó, chính quyền cơ sở và hội nông dân các cấp đã đóng vai trò kết nối, hướng dẫn kỹ thuật và định hướng phát triển phù hợp. Khi người dân mạnh dạn thử nghiệm, doanh nghiệp chung tay và chính quyền đồng hành, miền Tây Nghệ An sẽ có thêm nhiều mùa no ấm…