Quang cảnh Phiên Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI

Thực hiện chủ trương tăng cường cung cấp thông tin phục vụ hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội và các vị đại biểu Quốc hội tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, ngày 5/8/2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổng hợp, báo cáo chi tiết về các chính sách mới được ban hành, đang triển khai cũng như những vấn đề xã hội được cử tri quan tâm trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.

Nội dung báo cáo tập trung vào hai nhóm lớn: (1) Một số chính sách mới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo; (2). Một số vấn đề xã hội quan tâm trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.

NHÀ GIÁO ĐƯỢC ĐIỀU CHỈNH PHỤ CẤP ƯU ĐÃI; ĐỔI MỚI MẠNH MẼ CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG

Phụ cấp ưu đãi theo nghề từ 20% đến 80%

Luật Nhà giáo có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026, lần đầu tiên quy định thống nhất, toàn diện về vị trí, vai trò, quyền, nghĩa vụ, tiêu chuẩn, chế độ, chính sách đối với đội ngũ nhà giáo. Theo đó, lương của nhà giáo được xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính, sự nghiệp; đồng thời được hưởng các chế độ phụ cấp, ưu đãi đặc thù.

Theo Nghị định số 182/2026/NĐ-CP ngày 22/5/2026, có hiệu lực từ ngày 7/7/2026, mức phụ cấp ưu đãi theo nghề được áp dụng từ 20% đến 80%, tùy theo đối tượng, cấp học, loại hình cơ sở giáo dục và điều kiện địa bàn công tác. Cụ thể: (1) Mức 20% áp dụng đối với nhân sự hỗ trợ giáo dục trong các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên và một số cơ sở giáo dục chuyên biệt. (2) Mức 40% áp dụng đối với nhà giáo giảng dạy tại trường THCS, THPT và trung học nghề. (3) Mức 45% áp dụng đối với nhà giáo giảng dạy tại cơ sở giáo dục mầm non và trường tiểu học. (4) Mức 70% áp dụng đối với nhà giáo, cán bộ quản lý công tác tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. (5) Mức 80% áp dụng đối với một số đối tượng công tác tại trường phổ thông dân tộc nội trú, trường chuyên biệt và cơ sở giáo dục thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn. Theo đó, phụ cấp hằng tháng được tính trên hệ số lương hiện hưởng, phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung và các hệ số liên quan.

Đáng chú ý, việc lần đầu quy định phụ cấp 20% cho nhân sự hỗ trợ giáo dục thể hiện sự ghi nhận đối với vai trò của nhân sự hỗ trợ giáo dục, góp phần tạo động lực để lực lượng này yên tâm công tác.

Phân cấp mạnh thẩm quyền tuyển dụng, sử dụng nhà giáo

Công tác tuyển dụng, sử dụng và phát triển đội ngũ nhà giáo được đổi mới theo hướng phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, trên cơ sở Luật Nhà giáo và Nghị quyết số 248/2025/QH15.

Theo đó, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo được giao thẩm quyền tuyển dụng, tiếp nhận nhà giáo, cán bộ quản lý và nhân viên trong các cơ sở giáo dục công lập thuộc phạm vi quản lý; thực hiện điều động, thuyên chuyển, biệt phái, bổ nhiệm, thay đổi vị trí việc đối với các trường hợp liên quan từ hai đơn vị hành chính cấp xã trở lên trên địa bàn tỉnh.

Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An dự Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI

Chủ tịch UBND cấp xã thực hiện điều động, thuyên chuyển, biệt phái, bổ nhiệm, miễn nhiệm và bố trí vị trí việc làm đối với đội ngũ thuộc thẩm quyền quản lý.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 01/2026/TT-BGDĐT quy định về tuyển dụng nhà giáo, tạo cơ sở tổ chức tuyển dụng tập trung, công khai, minh bạch, bảo đảm nguyên tắc “ở đâu có học sinh, ở đó có giáo viên”.

Tính đến hết năm học 2025-2026, cả nước có 1.277.297 giáo viên mầm non, phổ thông và 98.477 cán bộ quản lý cơ sở giáo dục. Riêng năm học 2025-2026 tuyển dụng được 14.994 giáo viên, gồm 3.116 giáo viên mầm non, 5.241 giáo viên tiểu học, 4.524 giáo viên THCS và 2.113 giáo viên THPT; nâng tổng số giáo viên được tuyển dụng trong giai đoạn 2022-2026 lên trên 60.000 người.

Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn trình độ đào tạo ở các cấp học lần lượt là: mầm non 92,2%, tiểu học 95,3%, THCS 96,6% và THPT 100%.

Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn nghề nghiệp, chức danh nhà giáo

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành đồng bộ hệ thống thông tư quy định chuẩn nghề nghiệp, mã số, bổ nhiệm và xếp lương cho các đối tượng nhà giáo.

Cụ thể: (1) Thông tư 23/2026/TT-BGDĐT: Giáo viên cơ sở giáo dục thường xuyên. (2) Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT: Giáo viên sơ cấp, trung cấp. (3) Thông tư 25/2026/TT-BGDĐT: Giảng viên cao đẳng. (4) Thông tư 26/2026/TT-BGDĐT: Giảng viên đại học. (5) Thông tư 27/2026/TT-BGDĐT: Giáo viên trường dự bị đại học. (6) Thông tư 28/2026/TT-BGDĐT: Giáo viên mầm non. (7) Thông tư 30/2026/TT-BGDĐT: Giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông. (8) Thông tư 31/2026/TT-BGDĐT: Mã số, bổ nhiệm chức danh và xếp lương nhà giáo công lập. (9) Thông tư 32/2026/TT-BGDĐT: Việc xác định tương đương chức danh nhà giáo.

Ảnh minh hoạ

Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, việc hoàn thiện hệ thống này có ý nghĩa chuyển mạnh từ quản lý theo văn bằng, chứng chỉ sang quản lý theo vị trí việc làm, năng lực nghề nghiệp và kết quả thực hiện nhiệm vụ.

Mở rộng cơ chế thu hút nhân lực chất lượng cao

Cùng với các chính sách đối với đội ngũ hiện hữu, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết cơ chế huy động, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao tham gia giáo dục tiếp tục được mở rộng. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 159/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, quy định về giảng viên đồng cơ hữu trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đại học công lập. Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026, có hiệu lực từ ngày 1/9/2026, quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Bên cạnh đó, Quyết định số 530/QĐ-TTg ngày 31/3/2026 của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình thu hút chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài về giảng dạy, nghiên cứu, làm việc tại Việt Nam.

NHIỀU CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ TRỰC TIẾP NGƯỜI HỌC

Học sinh trường phổ thông nội trú và trường phổ thông nội trú tại các xã biên giới đất liền được tăng hỗ trợ

Theo Nghị định số 188/2026/NĐ-CP ngày 27/5/2026, có hiệu lực từ ngày 15/7/2026, chính sách hỗ trợ đối với học sinh trường phổ thông nội trú và trường phổ thông nội trú tại các xã biên giới đất liền được điều chỉnh.

Học sinh bán trú buổi trưa được hỗ trợ tiền ăn 450.000 đồng/tháng và 08 kg gạo/tháng.

Học sinh nội trú được hỗ trợ tiền ăn 1.170.000 đồng/tháng và 15 kg gạo/tháng, với thời gian hưởng tối đa 9 tháng/năm học.

Ngoài ra, học sinh được hỗ trợ 2.050.000 đồng/học sinh/năm học để mua đồng phục, học phẩm, dụng cụ học tập; được trang cấp chăn, màn, đồ dùng cá nhân với mức 2.050.000 đồng/học sinh/cấp học.

Đối với cơ sở giáo dục, chính sách hỗ trợ kinh phí vận hành, bảo trì công trình là 100.000 đồng/học sinh/tháng, tối đa 9 tháng; đồng thời hỗ trợ 540.000 đồng/học sinh/năm học để tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, giáo dục đặc thù.

Hỗ trợ bữa ăn trưa cho học sinh tại các xã biên giới

Thực hiện Nghị quyết số 248/2025/QH15, Chính phủ ban hành Nghị định số 339/2025/NĐ-CP ngày 25/12/2025, áp dụng từ năm học 2025-2026. Theo đó, hỗ trợ kinh phí tổ chức bữa ăn trưa theo số ngày học thực tế, tối đa 9 tháng/năm; hỗ trợ điện, nước theo định mức 7,5 kWh điện và 1,5 m³ nước/học sinh/tháng.

Chính sách cũng bao gồm đầu tư bếp ăn, nhà ăn, kho bảo quản và bố trí nhân lực phục vụ nuôi dưỡng.

Miễn phí sách giáo khoa phổ thông theo lộ trình

Chính phủ ban hành Nghị định số 271/2026/NĐ-CP quy định miễn phí sách giáo khoa phổ thông theo lộ trình, ưu tiên vùng dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo; phấn đấu đến năm học 2029-2030 hoàn thành việc cung cấp miễn phí sách giáo khoa trên toàn quốc thông qua cơ chế thư viện trường học, sách giáo khoa dùng chung và sách giáo khoa điện tử. Người học môn Giáo dục quốc phòng và an ninh tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đại học được miễn học phí và miễn giáo trình.

Học bổng cao cho các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược

Theo Nghị định số 179/2026/NĐ-CP ngày 20/5/2026, chính sách học bổng áp dụng đối với chương trình đào tạo tài năng, ngành vi mạch bán dẫn, khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược.

Đối với sinh viên đại học, mức học bổng là 5.500.000 đồng/tháng đối với chương trình tài năng; 4.200.000 đồng/tháng đối với vi mạch bán dẫn, khoa học cơ bản; 3.700.000 đồng/tháng đối với kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược. Thời gian hưởng tối đa 10 tháng/năm; không quá 4 năm đối với cử nhân và không quá 5 năm đối với kỹ sư có từ 150 tín chỉ trở lên.

Đối với học viên thạc sĩ, mức tương ứng là 7.400.000 đồng, 6.300.000 đồng và 5.500.000 đồng/tháng, tối đa 12 tháng/năm và không quá 2 năm.

Đối với nghiên cứu sinh, mức học bổng là 8.400.000 đồng/tháng đối với tài năng, vi mạch bán dẫn, khoa học cơ bản và 7.400.000 đồng/tháng đối với kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược, tối đa 12 tháng/năm.

Sinh viên STEM được tiếp cận tín dụng ưu đãi

Theo Quyết định số 29/2025/QĐ-TTg ngày 28/8/2025, người học các ngành STEM được vay toàn bộ học phí phải đóng sau khi trừ học bổng; đồng thời được vay chi phí sinh hoạt, học tập tối đa 05 triệu đồng/tháng.

Lãi suất vay là 4,8%/năm, bắt đầu trả nợ sau 12 tháng kể từ khi kết thúc khóa học. Khoản vay đến 500 triệu đồng không phải thế chấp tài sản.

Tỉnh Nghệ An trao thưởng cho các em học sinh đạt điểm cao tại Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025. Ảnh: Phạm Bằng

Ưu đãi đặc thù đối với người học lĩnh vực điện hạt nhân

Nghị định số 176/2026/NĐ-CP ngày 19/5/2026, có hiệu lực từ ngày 7/7/2026, quy định chính sách ưu đãi đối với người học trong lĩnh vực điện hạt nhân.

Đối với người học trong nước, được miễn học phí, ưu tiên ký túc xá, hưởng sinh hoạt phí hằng tháng bằng 2 lần mức lương cơ sở, tối đa 10 tháng/năm; học bổng khuyến khích bằng 0,75 lần mức lương cơ sở đối với mức khá, 1 lần đối với mức giỏi và 1,25 lần đối với mức xuất sắc.

Đối với người học ở nước ngoài, sinh viên đại học được cấp sinh hoạt phí bằng 1,5 lần mức cao nhất theo các đề án của Chính phủ, đồng thời chủ đầu tư hỗ trợ tối thiểu 300 USD/người/tháng; học viên thạc sĩ, tiến sĩ được cấp sinh hoạt phí bằng 2 lần mức cao nhất.

NHỮNG VẤN ĐỀ GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO ĐƯỢC XÃ HỘI QUAN TÂM

Sắp xếp mạng lưới trường học: Không để học sinh phải bỏ học vì khoảng cách

Trong quá trình sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp, quan điểm chủ đạo được Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định là không sắp xếp cào bằng, cơ học chỉ để đạt tỷ lệ giảm đầu mối; lấy chất lượng giáo dục và quyền lợi học sinh làm trung tâm, không để học sinh phải bỏ học vì khoảng cách đi lại. Dữ liệu bước đầu tính đến ngày 28/7/2026 cho thấy số đầu mối pháp nhân mầm non, phổ thông công lập dự kiến giảm khoảng 43,57%. Cùng với việc giảm đầu mối, dự kiến hình thành khoảng 16.000 phân hiệu nhằm giữ trường, điểm trường gần dân, bảo đảm điều kiện học tập. Đội ngũ cán bộ quản lý dôi dư được xem xét bố trí giảng dạy, qua đó hỗ trợ giải quyết tình trạng thừa, thiếu giáo viên cục bộ.

Rà soát Chương trình giáo dục phổ thông, tăng cường nội dung về AI, STEM và năng lực số

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang tổng kết Chương trình giáo dục phổ thông 2018 và xây dựng Đề án phát triển Chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045. Định hướng đặt ra là tinh giản những nội dung trùng lặp, tăng cường tích hợp và thực hành; bổ sung các nội dung mới về chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo (AI), giáo dục STEM, năng lực số và phát triển bền vững.

Các giải pháp được triển khai đồng bộ gồm đổi mới kiểm tra, đánh giá; giảm áp lực thi cử; triển khai dạy học 2 buổi/ngày; từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.

Một bộ sách giáo khoa thống nhất từ năm học 2026-2027

Theo Nghị quyết số 248/2025/QH15, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số 3588/QĐ-BGDĐT, lựa chọn bộ sách “Kết nối tri thức với cuộc sống” của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam làm bộ sách giáo khoa sử dụng thống nhất trên phạm vi cả nước từ năm học 2026-2027.

Bộ sách giáo khoa Kết nối tri thức với cuộc sống (Nguồn: NXB Giáo dục Việt Nam).

Việc triển khai bộ sách thống nhất cũng gắn với mục tiêu giảm giá thành, tiết kiệm chi phí. Có 180/263 cuốn sách giáo khoa được điều chỉnh giảm giá, tổng mức giảm khoảng 533.100 đồng/bộ, tương đương giảm khoảng 13,3% so với năm học 2025-2026. Trong đó, sách Tiếng Anh giảm 46,3%, Giáo dục quốc phòng và an ninh giảm 17,4%.

Việc biên soạn, xuất bản thống nhất giúp tiết kiệm khoảng 83 tỷ đồng chi phí in ấn thông qua đấu thầu rộng rãi.

Về công tác chuẩn bị xuất bản, kế hoạch phát hành gồm 204,47 triệu bản sách giáo khoa và 37,32 triệu bản sách bài tập. Đến thời điểm báo cáo, đã in xong trên 182,9 triệu bản sách giáo khoa, đạt trên 90% kế hoạch, đồng thời chuẩn bị 12,3 triệu bản dự phòng trong trường hợp xảy ra thiên tai, sự cố.

Kỳ thi tốt nghiệp THPT tiếp tục đổi mới, siết chặt chống gian lận

Theo phương án thi giai đoạn 2025-2030 tại Quyết định số 4068/QĐ-BGDĐT, thí sinh dự thi 4 môn, gồm 2 môn bắt buộc là môn Toán và môn ngữ Văn cùng 2 môn lựa chọn. Phương án này góp phần giảm số buổi thi, giảm chi phí và áp lực cho thí sinh.

Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 có 1.223.776 thí sinh đăng ký dự thi, tăng 61.642 thí sinh so với năm 2025; 100% thí sinh đăng ký trực tuyến.

Các thí sinh tham dự Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 tại Nghệ An.

Cả nước có 2.478 điểm thi với 544.097 phòng thi, tỷ lệ dự thi đạt 99,18%.

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các cơ quan chức năng, địa phương khẩn trương kiểm tra, làm rõ nguyên nhân, xử lý nghiêm các tập thể, cá nhân vi phạm; tiếp tục siết chặt an ninh, phòng chống gian lận bằng công nghệ cao/AI và chuẩn bị lộ trình tổ chức thi trên máy tính.

Công tác tuyển sinh đại học tiếp tục được chuẩn hóa, ổn định

Số liệu giai đoạn 2020-2025 cho thấy số người nhập học đại học tăng từ 460.160 lên 681.688 người, tương đương tăng 48,1%. Tỷ lệ nhập học/dự thi tăng từ 51,1% lên 59,0%. Tỷ lệ trường tuyển đạt trên 80% chỉ tiêu tăng từ 58,6% năm 2022 lên 76,0% năm 2025. Riêng năm 2025, có 50,3% thí sinh nhập học bằng kết quả thi tốt nghiệp THPT và 29,2% bằng học bạ THPT. Năm 2026, công tác tuyển sinh tiếp tục được vận hành ổn định trên Hệ thống hỗ trợ tuyển sinh chung. Mỗi thí sinh chỉ trúng tuyển 01 nguyện vọng cao nhất, góp phần giảm thiểu tình trạng “tuyển sinh ảo”.

Tập trung đào tạo nhân lực cho các ngành, lĩnh vực chiến lược

Để chuẩn bị nguồn nhân lực cho các lĩnh vực chiến lược, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phê duyệt 90 chương trình đào tạo kỹ sư, thạc sĩ tài năng và 59 chương trình đào tạo về vi mạch bán dẫn.

Cuộc thi Khoa học kỹ thuật sẽ góp phần đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá, thúc đẩy giáo dục STEM trong các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh. Ảnh: Mỹ Hà

Năm 2025, tuyển mới đại học nhóm ngành STEM đạt 220.319 sinh viên, chiếm 36,2% tổng tuyển mới; quy mô sinh viên chính quy STEM đạt 777.475 sinh viên, chiếm 29,6% toàn hệ thống. Trong năm 2025, tuyển mới 3.527 nghiên cứu sinh, trong đó có 687 nghiên cứu sinh thuộc 15 nhóm ngành chiến lược. Năm 2026, tổng chỉ tiêu tuyển sinh đạt 808.628, tăng 5,31%; riêng các ngành STEM có 253.417 chỉ tiêu, tăng 3,32%.

Thí sinh đăng ký 2.367.808 nguyện vọng vào các ngành STEM, chiếm 51,45% tổng số nguyện vọng; riêng nhóm Máy tính và Công nghệ thông tin chiếm 17,61%. Có hơn 17 lượt ngành đào tạo thuộc lĩnh vực kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược và 50 lượt ngành đào tạo giáo viên có điểm chuẩn từ 27/30 điểm trở lên.

Hơn 10,3 triệu học bạ số, đẩy mạnh ứng dụng AI trong giáo dục

Cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo đã liên thông 5 cơ sở dữ liệu lớn, quản lý thông tin của 50.000 cơ sở giáo dục, 27 triệu người học và 1,4 triệu nhà giáo, đồng thời kết nối thông suốt với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Đến tháng 8/2026, toàn ngành đã tạo lập trên 10,3 triệu học bạ số và 1,2 triệu văn bằng số; đồng bộ hơn 9,6 triệu học bạ số và 800.000 văn bằng số lên ứng dụng VNeID. Trong đổi mới giảng dạy, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Khung năng lực số cho người học và nhà giáo; phát động các chương trình “Bình dân học vụ số”, “Bình dân học AI”; triển khai 857 kịch bản sư phạm và 507 bài giảng số; thí điểm giáo dục AI tại 100% tỉnh, thành phố.

Tăng cường giáo dục chính trị, đạo đức và bảo đảm an toàn trường học

Trong công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống và bảo đảm an ninh, an toàn trường học, ngành giáo dục triển khai “Chương trình bảo vệ và hỗ trợ trẻ em phát triển trên môi trường mạng giai đoạn 2026-2030” và “Chương trình Sức khỏe học đường giai đoạn 2026-2035”. Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an, Bộ Y tế để kiểm soát bạo lực học đường, ma túy, thuốc lá điện tử, mất an toàn thực phẩm. Đồng thời, ngành giáo dục xây dựng quy định về quản lý, sử dụng mạng xã hội trong các cơ sở giáo dục nhằm ngăn chặn các hành vi bắt nạt, xâm hại trên không gian mạng.

Đổi mới giáo dục để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Những chính sách mới cùng các giải pháp toàn diện được Bộ Giáo dục và Đào tạo thông tin tới Quốc hội khẳng định quyết tâm của Đảng, Quốc hội và Chính phủ trong việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW, tạo nền tảng vững chắc để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của đất nước.