Nhiều hụt hẫng

Ngày đầu tuần hôm nay, 59 học sinh lớp 12D1 - Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng đến lớp với nhiều tâm trạng khác nhau. Trong câu chuyện của các em, phần lớn xoay quanh chủ đề về dự thảo tuyển sinh đại học mà Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa công bố vào cuối tuần trước. Điều mà các em băn khoăn nhất, chính là việc Bộ dự kiến sẽ bỏ cộng điểm IELTS và chứng chỉ quốc tế.

Bước vào năm học cuối, đặt mục tiêu vào Trường Đại học Kinh tế quốc dân và Trường Đại học Luật Hà Nội, em Võ Hoàng - lớp 12AD1 cho biết, em vừa thi chứng chỉ IELTS vào cuối tháng 8 và đạt kết quả 7.0. Vì chưa hài lòng với kết quả nên Hoàng đã đăng ký để thi lại với mong muốn rộng cửa vào đại học. Thế nhưng, thông tin bỏ cộng điểm IELTS khiến em thực sự lo lắng.

img_0978(1).jpg?md5=dkhuCrpVerW10VCEIOG2VA&expires=1790057019
Giờ học của học sinh lớp 12D1 - Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng. Ảnh: Mỹ Hà

Theo Hoàng, em bắt đầu ôn luyện IELTS từ rất sớm và gia đình cũng đã phải bỏ hàng chục triệu đồng để em ôn thi. Bản thân em, trong quá trình ôn thi đã từng không ít lần muốn bỏ cuộc nhưng cuối cùng vẫn cố gắng kiên trì vì biết đây là một tấm vé quan trọng để trúng tuyển vào đại học. Trước sự thay đổi này, Hoàng cho biết, cả lớp đều rất băn khoăn. Tuy nhiên, mọi người dường như “nín thở” để chờ kết quả cuối cùng.

Cùng lớp với Hoàng, học sinh Khánh Chi cho biết, từ năm lớp 9 em đã đạt kết quả IELTS 7.0. Khi đó, điểm số này đã đủ để em trúng tuyển theo diện xét tuyển thẳng vào trường công lập và có nhiều cơ hội trúng tuyển vào trường chuyên của tỉnh. Tuy nhiên, mùa tuyển sinh năm đó, Bộ đưa ra quyết định bỏ tuyển thẳng vào lớp 10 với học sinh có chứng chỉ IELTS khiến em và nhiều bạn cùng lớp ở Trường THCS Đặng Thai Mai hết sức thất vọng. Lên THPT, với nền tảng sẵn có, ngoài tiếp tục ôn thi IELTS, Khánh Chi cũng đang tăng tốc ôn thi chứng chỉ SAT với mục tiêu thi đậu vào Trường Đại học Ngoại thương. Thời điểm này, khi các kế hoạch đang chuẩn bị về đích thì Bộ lại tiếp tục thay đổi khiến em thực sự trở tay không kịp.

“Chúng em không còn nhiều thời gian để chuẩn bị cho các kỳ thi nữa. Việc có chứng chỉ IELTS và SAT cũng là điều không dễ dàng, đòi hỏi cả năng lực, chăm chỉ, sự kiên trì và cả đầu tư về kinh tế. Vì thế, nếu chính sách tuyển sinh điều chỉnh, cơ quan quản lý có lộ trình phù hợp để học sinh đã chuẩn bị từ trước không bị động. Em cũng cho rằng, việc ghi nhận những nỗ lực đã được đầu tư trong quá trình học tập cũng là cách tạo sự công bằng và giúp học sinh yên tâm hơn trong giai đoạn cuối cấp.

Khánh Chi - lớp 12D1, Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng

Đồng cảm với những lo lắng của học sinh, cô giáo Nguyễn Thị Sắc - giáo viên chủ nhiệm lớp 12D1 cho biết, đây là lớp chọn 1, định hướng chủ yếu theo khối D nên 100% học sinh trong lớp đều ôn luyện và có chứng chỉ IELTS hoặc các chứng chỉ quốc tế khác. Để đạt được những kết quả này, các em đã phải đầu tư không ít thời gian, công sức và chi phí, nhiều em bắt đầu chuẩn bị từ những năm đầu THPT.

img_0996(1).jpg?md5=dipEboK4Swtvncl00im3HQ&expires=1790057019
Dự thảo tuyển sinh đại học khiến nhiều học sinh lớp 12 lo lắng. Ảnh: Mỹ Hà

“Bản thân tôi cho rằng, việc thay đổi phương thức tuyển sinh có thể là cần thiết để hướng tới sự công bằng, hạn chế sự chênh lệch về cơ hội giữa học sinh các vùng miền. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải có lộ trình phù hợp. Với học sinh lớp 12 năm nay, các em đã chuẩn bị cho việc xét tuyển đại học trong suốt 2 - 3 năm. Nếu thay đổi đột ngột vào thời điểm các em đã cơ bản hoàn thành quá trình học tập, ôn luyện và có chứng chỉ thì sẽ tác động rất lớn đến tâm lý”, cô Sắc chia sẻ.

Tạo sự ổn định và có chính sách ưu tiên phù hợp

Chiều 17/9 vừa qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công bố dự thảo về tuyển sinh đại học dự kiến sẽ được áp dụng ngay trong năm học này. Trong đó, Bộ đề xuất danh mục mã số các phương thức xét tuyển đại học năm 2027 chỉ còn 11 phương thức thay vì 19 phương thức như quy định cũ và mỗi ngành chỉ được xét tuyển 3 phương thức thay vì 5 phương thức như năm học trước.

Bên cạnh đó, thí sinh không còn được cộng tối đa 3 điểm với chứng chỉ IELTS hay giải học sinh giỏi khi xét tuyển đại học từ năm 2027.

Qua nhiều năm làm công tác quản lý, Hiệu trưởng Trường THPT Kim Liên cho rằng, với dự thảo mới có nhiều điều cần phải xem xét. Theo đó, đứng trên góc độ của đại đa số học sinh, phụ huynh càng ít phương thức xét tuyển càng có lợi cho phụ huynh học sinh. Lâu nay, có rất nhiều kỳ thi gây tốn kém cho phụ huynh, gây khó khăn cho quá trình học tập bởi các em không biết chuẩn đầu ra của các kỳ thi là như thế nào để các em tiếp cận, một phương thức có một hình thức thi khác nhau. Trong khi đó, giáo viên ở Trường THPT chỉ tập trung ôn thi tốt nghiệp. Vì thế, khi chỉ có một phương thức, chúng tôi mong rằng, hãy lấy kết quả từ một kỳ thi do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức.

dsc09946.jpg?md5=X-mPrSAdOqVeUzKprCwrqw&expires=1790057019
Học sinh Trường THPT Kim Liên. Ảnh: Mỹ Hà

Trong khi đó, trước quy định dự kiến không cộng điểm đối với thí sinh có kết quả thi học sinh giỏi hoặc chứng chỉ IELTS, Tiến sĩ Lê Xuân Sơn - Trường THPT chuyên Đại học Vinh cho rằng, trong giai đoạn đổi mới giáo dục hiện nay, cần đa dạng phương thức tuyển sinh và đa dạng hóa cách thức hướng dẫn, định hướng học sinh học tập, phù hợp với năng lực của từng em.

Theo Tiến sĩ Lê Xuân Sơn, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như các cơ sở giáo dục đại học cần có cơ sở, dữ liệu thực tế để nghiên cứu, lựa chọn phương thức tuyển sinh nhằm bảo đảm cơ hội và sự công bằng tương đối giữa các nhóm thí sinh. “Xu hướng hiện nay, nhiều trường đại học đều ưu tiên tuyển sinh theo kết quả của các kỳ thi riêng nên học sinh chỉ có kết quả thi tốt nghiệp THPT có thể bị hạn chế cơ hội”, ông phân tích.

Từ góc độ này, thầy Sơn cho rằng việc sử dụng nhiều phương thức tuyển sinh là phù hợp, nhưng cần nghiên cứu kỹ để mỗi phương thức thực sự tạo ra cơ hội học tập và bảo đảm sự công bằng cho các nhóm đối tượng. Những kết quả học tập, rèn luyện có giá trị trong quá trình học tập của học sinh nên được nghiên cứu để có thể sử dụng trong tuyển sinh ở mức độ phù hợp.

“Chẳng hạn, IELTS là một chứng chỉ quốc tế có độ tin cậy nhất định, có thể được tham khảo trong tuyển sinh. Kỳ thi học sinh giỏi cũng là một sân chơi cần thiết, nếu được tổ chức nghiêm túc, công bằng, qua đó tạo cơ hội cho những học sinh có năng lực phát huy sở trường của mình. Tuy nhiên, không nên tuyệt đối hóa bất kỳ một kết quả nào”, Tiến sĩ Lê Xuân Sơn nói.

bna_ngay-hoi-tu-van-tuyen-sinh-huong-nghiep-nam-2026-tai-truong-dai-hoc-vinh.-anh-my-ha.jpg?md5=e6Ogtae9AN6WdpByCwS1cA&expires=1790057019
Ngày hội Tư vấn tuyển sinh hướng nghiệp năm 2026 tại Trường Đại học Vinh. Ảnh: Mỹ Hà

Theo ông Sơn, vấn đề quan trọng là phải quản lý chặt chẽ chất lượng và tính công bằng của các kỳ thi, bởi kỳ thi học sinh giỏi nếu được tổ chức nghiêm túc sẽ tạo cơ hội cho mọi học sinh có năng lực tham gia. Tương tự, với IELTS hay các hình thức học tập trực tuyến, hiện nay cơ hội tiếp cận của học sinh đã rộng mở hơn rất nhiều. Do đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các cơ sở giáo dục đại học cần tiếp tục nghiên cứu để xác định mức độ ghi nhận phù hợp đối với từng loại kết quả, thay vì coi một chứng chỉ hay một thành tích là yếu tố quyết định.

“Không nên có quan niệm cứ có IELTS là có thể vào đại học. Cũng không nên chỉ dựa vào một thành tích học sinh giỏi để quyết định cơ hội của một thí sinh. Điều quan trọng là xác định được mức độ ưu tiên, quy đổi như thế nào cho hợp lý, vừa ghi nhận nỗ lực của học sinh, vừa bảo đảm công bằng trong tuyển sinh.

Tiến sĩ Lê Xuân Sơn - Trường THPT chuyên Đại học Vinh

Đặc biệt, liên quan đến việc thay đổi quy chế tuyển sinh, Tiến sĩ Lê Xuân Sơn cho rằng cần có lộ trình đủ dài, có thể tính toán trong khoảng 3 năm, để học sinh và phụ huynh có thời gian thích ứng.

“Ngay từ khi vào THPT, học sinh và phụ huynh đã bắt đầu tính toán, lựa chọn hướng đi phù hợp để chuẩn bị cho kỳ thi và xét tuyển đại học. Các em dựa trên quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, quy định của từng trường để xây dựng kế hoạch học tập trong 2 - 3 năm. Vì vậy, nếu thay đổi chính sách trong thời gian quá ngắn, chắc chắn sẽ tạo tâm lý hụt hẫng, lo lắng cho học sinh và phụ huynh”, ông nói.

Tiến sĩ Lê Xuân Sơn cũng nói rằng, việc học là một quá trình dài và việc định hướng học tập cũng không thể thay đổi trong ngày một, ngày hai. Bởi vậy, khi điều chỉnh phương thức tuyển sinh, bên cạnh mục tiêu đổi mới, cần tính toán đến sự ổn định của chính sách và lộ trình áp dụng, để học sinh có thời gian chuẩn bị, điều chỉnh kế hoạch học tập.

“Nếu đột ngột thay đổi cách thức tuyển sinh khi học sinh đã đi được một chặng đường dài, việc học tập và chuẩn bị của các em khó tránh khỏi bị xáo trộn”, ông Sơn chia sẻ.

.