Mở hướng làm ăn mới
Sương sớm còn vương trên mái nhà sàn, tiếng thoi đưa vẫn đều đặn vang lên. Ở xã Na Loi, khung cửi không chỉ sinh ra vải vóc mà còn giữ nhịp sống cộng đồng, giữ sinh kế cho người dân. Và chị Kha Thị Miền, người con dâu của bản đã trở thành cầu nối đưa sản phẩm thổ cẩm Na Loi vượt bản, sang đất bạn, mở đầu ra ổn định cho bà con. Sinh năm 1979 ở Hữu Lập, về làm dâu bản Na Loi từ thuở còn trẻ, chị Miền gắn bó với khung cửi từ nhỏ. Một chuyến sang Lào thăm thân hơn mười năm trước đã mở ra cơ duyên lớn: “Mang thổ cẩm sang làm quà cho người thân, ai ngờ bên Lào bà con lại rất chuộng. Thế là mình thử kết nối xem sao”, chị nhớ lại.
Từ những tấm vải đầu tiên do chính tay mình dệt, chị Miền mạnh dạn mở đại lý thu mua, đi khắp các xã Mường Lống, Huồi Tụ, Phà Đánh, Keng Đu… để gom hàng. Chị đứng ra kết nối các tổ dệt, lập kênh xuất hàng sang Lào. “Trung bình mỗi tháng xuất khoảng 300 tấm thổ cẩm các loại, doanh thu 150–200 triệu đồng; mỗi năm xuất bán 3–4.000 sản phẩm, mang về trên 2 tỷ đồng”, chị chia sẻ. Không chỉ làm đầu mối tiêu thụ, chị Miền còn hỗ trợ vốn cho các hộ khó khăn, ứng nguyên liệu, trừ dần vào sản phẩm, một cách làm đơn giản nhưng hiệu quả. Khi HTX làng nghề dệt thổ cẩm Na Loi được thành lập, chị được bầu làm Phó Chủ nhiệm. Từ đây, sản xuất được quy hoạch theo hướng hàng hóa, sản phẩm có thương hiệu rõ ràng hơn. “Tôi luôn tận tâm giới thiệu nét đẹp văn hóa của dân tộc mình, mong thổ cẩm sẽ ngày càng được thị trường biết đến”, chị nói.
Cách kết nối của chị không dừng ở mua – bán. Chị liên tục trao đổi với các tổ dệt về mẫu mã, cập nhật màu sắc, khuyến khích phối hợp thổ cẩm với vải hiện đại để làm áo dài, túi xách, khăn choàng… Sự đổi mới giúp thổ cẩm Na Loi vừa giữ được hồn truyền thống, vừa dễ tiêu thụ. Chị Vi Thị Khăm, tổ trưởng tổ dệt xã Phà Đánh, cho biết: “Nhờ có đầu ra ổn định qua chị Miền, bà con yên tâm bám nghề, không lo ế hàng.” Nhờ những người như chị Miền, chuỗi liên kết sản xuất – tiêu thụ được hình thành, không chỉ giải quyết đầu ra mà còn tạo việc làm, thu nhập ổn định, giảm tình trạng bỏ nghề, rời bản đi làm ăn xa.
Giữ nghề, giữ bản làng no ấm
Ở bản Na Loi hiện có 88 hộ dân, trong đó 78 hộ làm nghề dệt và trồng dâu nuôi tằm, chiếm gần 89%. Nghề dệt mang lại thu nhập bình quân 2,3–2,5 triệu đồng/người/tháng, nhiều hộ thu tới cả chục triệu đồng. Tổng doanh thu của bản đạt gần 2,5 tỷ đồng/năm. Gia đình bà Vi Thị Loan là ví dụ tiêu biểu: ba thế hệ cùng dệt, 7 khung cửi hoạt động quanh năm. “Con gái bản ai cũng biết dệt, từ trẻ nhỏ đến cụ già. Chỉ cần có đầu ra ổn định là bà con yên tâm bám nghề”, bà Loan nói.
Tại bản Kèo Cơn (xã Keng Đu), tổ dệt mới thành lập 3 năm nay đã thu hút 40 thành viên. Mỗi người dệt trung bình 40 tấm/tháng, bán 200.000 đồng/tấm; sau khi trừ chi phí, thu nhập đạt 2–2,5 triệu đồng. “Với thu nhập đó, nhiều hộ có thêm nguồn tiền ổn định để nuôi con, sửa nhà”, chị Hoa Y Noong, tổ trưởng, chia sẻ.
Nhận thấy giá trị của nghề, chính quyền địa phương đã đưa phát triển thổ cẩm vào chương trình hành động giai đoạn 2025–2030, hướng tới sản xuất hàng hóa gắn với du lịch cộng đồng, tạo điểm trải nghiệm và bán sản phẩm lưu niệm. “Chúng tôi mong muốn thổ cẩm trở thành sản phẩm OCOP đặc trưng của địa phương”, ông Lương Văn Ngam – Chủ tịch UBND xã Keng Đu – cho biết.
Sản xuất nay đã mang tính chiến lược hơn: thợ dệt chủ động đổi mới mẫu mã theo thị hiếu, song vẫn giữ được họa tiết đặc trưng; các tổ hợp tác, HTX hình thành, giúp thống nhất giá cả, tiêu chuẩn và đầu ra ổn định.
Nghề dệt còn mang lại giá trị xã hội rõ nét: phụ nữ làm ra tiền, tự chủ hơn trong gia đình; truyền nghề cho con cháu giúp lưu giữ bản sắc, làm giàu đời sống tinh thần. Nhiều hộ đã xây được nhà kiên cố, đầu tư cho con học hành, góp phần thực hiện tiêu chí thu nhập, việc làm trong xây dựng nông thôn mới.
Liên kết sản xuất – tiêu thụ và giữ nghề – nâng thu nhập chính là hai trụ cột quan trọng trong xây dựng nông thôn mới ở các xã vùng cao. Với Na Loi, sự hình thành các tổ, nhóm dệt, hợp tác xã không chỉ giúp người dân thoát khỏi cách làm manh mún mà còn tạo chuỗi giá trị khép kín, từ cung ứng nguyên liệu, tổ chức sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm. Liên kết ấy góp phần hình thành tư duy sản xuất hàng hóa, giúp người dân chuyển từ “dệt để mặc” sang “dệt để làm kinh tế”. Nhờ có những hạt nhân năng động như chị Kha Thị Miền, đầu ra của thổ cẩm không còn phụ thuộc vào thương lái nhỏ lẻ, mà dần có thị trường ổn định, từng bước khẳng định thương hiệu riêng.
Song song với đó, việc giữ nghề, nâng thu nhập được xem là nền tảng để giữ người, giữ bản. Khi nghề dệt mang lại nguồn sống ổn định, người dân không còn rời bản đi làm ăn xa, phụ nữ có thêm cơ hội phát huy vai trò trong gia đình và cộng đồng. Mỗi khung cửi không chỉ tạo ra sản phẩm văn hóa mà còn là “công cụ làm giàu” ngay tại quê hương. Nhờ vậy, các tiêu chí về việc làm, thu nhập, văn hóa, bình đẳng giới… đều được củng cố, tạo nên diện mạo nông thôn mới bền vững, vừa giàu bản sắc, vừa no ấm. Khi thổ cẩm có đầu ra, khi người thợ yên tâm bám khung cửi, giữ nghề truyền thống không chỉ là giữ ký ức, mà còn là giữ nền tảng no ấm cho nông thôn vùng biên hôm nay.



