Những đặc sản vùng cao gọi mùa
Khi những làn sương sớm vẫn còn vờn quanh triền núi, hồng nơi biên giới Mường Xén đã bắt đầu chín đỏ. Cữ này, con đường dẫn vào các bản Huồi Giảng 1, Huồi Giảng 2 như ngập trong sắc hồng cam ấm áp. Loại quả tưởng giản dị ấy lại mang trong mình câu chuyện dài về một hành trình đổi thay, từ cây trồng thay thế thuốc phiện được đưa vào năm 1996 đến nguồn thu ổn định hôm nay. Cây hồng hợp khí hậu, bén rễ nhanh, bền sức trước gió sương. Hàng chục năm qua, những vạt hồng trải dọc nương rẫy người Mường Xén đã trở thành hình ảnh thân thuộc, đánh thức mùa thu biên giới.
Đến mùa, hồng chín đỏ mọng, từng gia đình lại rủ nhau lên rẫy hái quả. Thương lái tìm đến tận bản đặt mua, giá dao động 25–30 nghìn đồng mỗi ki-lô-gam tùy cỡ. Dẫu chỉ kéo dài gần 2 tháng, từ giữa tháng Tám đến hết tháng Mười, nhưng vụ hồng đã góp cho người dân một mùa bội thu, thêm niềm vui sau những ngày nương rẫy.
Cũng vào thời gian ấy, ở Na Ngoi, giữa những triền rẫy xanh ngút, hoa gừng bắt đầu trồi lên bụ bẫm, mỡ màng. Búp hoa xanh nõn, khi nở xòe cánh mỏng manh là lúc báo hiệu vụ thu hoạch gừng không còn xa. Bà con dùng kéo nhỏ cắt khéo từng bông, vừa giữ được củ, vừa kịp bán hoa cho thương lái miền xuôi. Hoa gừng tươi non, chỉ cần rửa sạch, chẻ đôi là có thể chế biến thành vô vàn món ngon – từ xào bò, chiên trứng đến nấu canh giải cảm. Một bụi gừng cho chừng chục búp hoa, nhà nào khỏe thu được 10–20 kg mỗi sáng, bán giá 20–25 nghìn đồng/kg, cũng đủ mang về 300–400 nghìn đồng tiền lãi. “Trước đây, hoa gừng chỉ để người trong bản dùng nấu ăn, nay nhờ thương lái biết đến nên bà con phấn khởi lắm”, anh Lầu Bá Cha ở bản Buộc Mú, xã Na Ngoi, vừa cười vừa nói. Với hơn 468 ha gừng, Na Ngoi giờ đây không chỉ bán củ mà cả hoa cũng thành hàng hóa, giúp người dân tăng thêm nguồn thu trong năm.
Còn ở Na Loi, những ngày đầu thu, trên các sườn nương, khoai sọ bắt đầu vào vụ thu hoạch. Củ khoai nhỏ, vỏ sần sùi, ruột trắng ngần, bở và thơm, khác hẳn với giống khoai môn miền xuôi. Cây khoai sọ hợp đất đồi, chịu hạn tốt, ít sâu bệnh, nên nay đã trở thành cây hàng hóa ở vùng cao Kỳ Sơn. Toàn huyện có gần 200 ha trồng khoai sọ, tập trung ở các xã Huồi Tụ, Mường Lống, Na Loi, Na Ngoi, Mường Xén, năng suất trung bình đạt 60–70 tạ/ha, giá bán từ 15–20 nghìn đồng/kg. “Nhà tôi trồng 3 rẫy khoai, mỗi năm thu được khoảng 30–40 triệu đồng. Giờ đường sá thuận lợi, thương lái lên tận nơi thu mua, bà con yên tâm mở rộng diện tích”, anh Thò Nếnh Cầu ở bản Huồi Viên, xã Na Loi, chia sẻ. Từ cây lương thực phụ, khoai sọ đã thành hàng hóa đặc trưng, góp phần cải thiện đời sống người dân vùng biên viễn.
Từ bao đời nay, vùng cao Nghệ An vốn nổi tiếng với nhiều sản vật đặc trưng, ngon và sạch – thứ sản vật được nuôi dưỡng bởi khí hậu mát lạnh, đất đai giàu khoáng, nguồn nước tinh khiết từ khe suối. Ấy vậy mà, trong một thời gian dài, những thức quà ấy chỉ dừng lại ở việc thu hoạch thô, bán thô; phần lớn phụ thuộc vào thương lái miền xuôi, nên giá trị kinh tế thấp, đầu ra bấp bênh. Mùa được thì rớt giá, mùa mất lại chẳng có hàng, khiến công sức của bà con đôi khi đổi về chỉ bằng vài đồng lời ít ỏi. Không ít nông sản quý – như hồng, khoai sọ, gừng sẻ, nếp nương – từng bị lãng quên hoặc chỉ dùng trong phạm vi bản làng vì khó bảo quản, khó vận chuyển xa. Nhưng rồi, cùng với sự vào cuộc của chính quyền, doanh nghiệp và những người trẻ khởi nghiệp, bức tranh nông sản vùng cao đã dần đổi khác: sản phẩm không chỉ được thu mua chế biến, mà còn được quảng bá, gắn với thương hiệu, với câu chuyện của núi rừng.
Từ đặc sản địa phương đến thương hiệu vùng miền
Từ những đồi chè Shan tuyết xanh biếc nơi biên giới Huồi Tụ đến những sườn núi trập trùng gừng sẻ, khoai sọ, nếp nương… những sản vật miền cao Nghệ An đang từng bước vươn ra khỏi bản làng, nương rẫy được chế biến, quảng bá và mang tầm thương hiệu vùng miền. Hành trình ấy có sự góp sức bền bỉ của nhiều người trẻ – những người dám nghĩ, dám làm, mang tri thức, khát vọng và trái tim hướng về miền biên viễn.
Đó là chàng trai Đào Quang Vũ, sinh năm 1991, được coi là người đầu tiên khởi xướng việc phục hồi và chế biến chè Shan tuyết cổ thụ thành sản phẩm trà đặc sản mang thương hiệu “Trà Shan tuyết Kỳ Sơn”. Năm 2020, trong một chuyến thiện nguyện ở vùng cao, Vũ tình cờ biết đến những đồi chè Shan tuyết cổ thụ đang bị người dân chặt bỏ do giá búp chè thấp, đầu ra bấp bênh. Với kinh nghiệm kinh doanh nông sản và hiểu biết thị trường, anh nhận ra tiềm năng đặc biệt của giống chè quý – thứ chè mọc ở độ cao trên 1.000 m, búp dày phủ lông tơ trắng, hương vị thanh ngọt tự nhiên hiếm nơi nào có được. “Lúc chứng kiến người dân chặt chè, tôi chỉ thấy tiếc nuối. Nhưng rồi ý nghĩ làm gì đó để cứu lấy giống chè quý đã thôi thúc tôi ở lại”, Vũ chia sẻ.
Từ suy nghĩ ấy, anh bắt tay vào chế biến búp chè Shan tuyết thành sản phẩm trà cao cấp. Ban đầu, nhiều mẻ trà hỏng, mất trắng, nhưng bằng sự kiên trì và tấm lòng dành cho vùng cao, anh đã tạo ra được những mẻ trà đạt chuẩn, hương thơm thanh khiết, vị ngọt hậu đặc trưng. Trở lại bản làng, Vũ thu mua búp chè tươi cho bà con với giá cao gấp đôi trước đây. Từ chỗ định chặt bỏ, người dân Huồi Tụ nay đã chăm sóc, bảo vệ cây chè như báu vật của núi rừng. Mỗi vụ thu hoạch, cả bản lại rộn ràng tiếng cười, tiếng hát trong những giỏ chè thơm ngát mang về. Đến nay, thương hiệu Trà Shan tuyết Kỳ Sơn không chỉ được tiêu thụ trong nước mà còn xuất hiện ở nhiều hội chợ quốc tế tại Lào, Thái Lan, Ấn Độ, Nhật Bản... Mỗi năm, doanh nghiệp của Vũ thu mua ổn định khoảng 30 tấn búp chè tươi, chế biến thành 5 tấn trà khô chất lượng cao, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho 40 hộ đồng bào Mông. Không dừng lại ở sản xuất, Vũ còn ấp ủ ước mơ xây dựng văn hóa trà, gắn sản phẩm với câu chuyện con người và bản làng. Với anh, “mỗi tách trà Shan tuyết Kỳ Sơn là hương vị của đất trời, của sự đổi thay và khát vọng vươn lên từ vùng biên giới”.
Cũng từ những chuyến đi vùng cao, chị Trần Thị Hồng Thắm ở xã Quỳnh Văn lại mở ra một hành trình khác – hành trình đưa gừng sẻ Kỳ Sơn từ sản vật địa phương trở thành sản phẩm chăm sóc sức khỏe. Trong một lần đến Na Ngoi, chị biết đến loại gừng sẻ do đồng bào Mông trồng trên núi cao, củ nhỏ, cay nồng, thơm đậm, được cấp chỉ dẫn địa lý. Khi nghe bà con than khó tiêu thụ, chị nghĩ ngay đến việc kết hợp gừng sẻ với muối biển sâu NanoSalt – nguồn nguyên liệu quê mình để tạo nên sản phẩm mới mang giá trị cộng hưởng giữa núi và biển. Sau nhiều tháng thử nghiệm, chị Thắm cùng cộng sự cho ra đời các sản phẩm: nước cốt gừng tràm trà muối, nước cốt gừng hà thủ ô muối Epsom ủ tóc, muối gừng ngâm chân, tinh dầu gừng muối Magie xoa bóp... Những sản phẩm tưởng chừng mộc mạc ấy lại nhanh chóng có mặt tại các cửa hàng OCOP trong và ngoài tỉnh, được người tiêu dùng đón nhận tích cực. Với chị Thắm, “mỗi sản phẩm là một câu chuyện kết nối giữa người trồng và người sử dụng, giữa núi và biển, giữa tri thức và bản sắc địa phương”. Từ chỗ chỉ biết bán củ gừng tươi, nay bà con vùng cao Kỳ Sơn đã trở thành người cung ứng nguyên liệu cho chuỗi sản xuất giá trị cao hơn. Mỗi cân gừng sẻ không chỉ mang lại thu nhập, mà còn góp phần vào hành trình khẳng định thương hiệu sản phẩm địa phương.
Câu chuyện của Vũ và Thắm cũng là đại diện tiêu biểu cho thế hệ trẻ Nghệ An đang dấn thân vào khởi nghiệp nông nghiệp. Họ mang đến cho sản vật vùng cao không chỉ bao bì, tem nhãn hay logo, mà quan trọng hơn – một linh hồn mới: sự kết hợp giữa tri thức, công nghệ và tình yêu bản địa.
Không chỉ dừng ở đó, những năm gần đây, các hợp tác xã ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã mạnh dạn ứng dụng công nghệ số để quảng bá sản phẩm. Trên các sàn thương mại điện tử như Postmart, Voso, hàng loạt đặc sản như mật ong rừng, măng khô, gạo nếp nương… được giới thiệu đến người tiêu dùng khắp cả nước. Tại bản Huồi Cọ, chị Lô Thị Hoa, người dân tộc Mông, xã Nhôn Mai cũng học cách bán hàng trực tuyến. Từ một phụ nữ bán dược liệu nhỏ lẻ, chị đã lập nhóm “Phụ nữ Mông khởi nghiệp số”, giúp chị em trong bản học cách chụp ảnh, đăng bài, kể câu chuyện của sản phẩm mình. Từ đó, những bó thổ cẩm, gói dược liệu rừng không chỉ nằm ở chợ phiên mà đã có mặt trong đơn hàng gửi đi Hà Nội, Sài Gòn, thậm chí cả nước bạn Lào.
Theo Liên minh Hợp tác xã tỉnh Nghệ An, việc đẩy mạnh thương mại số đã giúp sản phẩm miền núi thoát khỏi tình trạng nhỏ lẻ, tự phát. Các sản phẩm đặc sản như trà Shan tuyết, gừng sẻ, hoa gừng, nếp nương... nay đều được dán mã QR truy xuất nguồn gốc, tham gia hội chợ và kết nối tiêu thụ toàn quốc. Đây chính là hướng đi mới, giúp sản vật miền cao bước chân vào thị trường rộng lớn, đồng thời khẳng định vị thế của nông sản địa phương trong nền kinh tế số. Từ những nỗ lực ấy, dễ thấy rằng hành trình đi từ đặc sản địa phương đến thương hiệu vùng miền không chỉ là câu chuyện kinh tế, mà còn là sự lan tỏa của văn hóa và khát vọng con người. Mỗi sản phẩm không chỉ mang vị ngọt của nông sản, mà còn đượm mồ hôi, công sức, cả tình yêu quê hương và ý chí vươn lên của đồng bào vùng cao.



