Nội dung góp ý tập trung nguyên tắc áp dụng pháp luật, phạm vi trách nhiệm bồi thường, thời hạn có hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường và kinh phí thực hiện.

bna_2hgb6f3re6vzzheu2lzhimw5a6sxic1prjag.jpg
Phiên thảo luận tại hội trường, Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI. Ảnh: Viết Chung

Không nên kéo dài thời gian quyết định bồi thường chưa có hiệu lực

Đại biểu Thái Thị An Chung bày tỏ sự tán thành với sự cần thiết sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Việc sửa đổi cần bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, đồng thời tạo điều kiện để người bị thiệt hại được giải quyết và bồi thường kịp thời.

Về nguyên tắc áp dụng pháp luật, đại biểu thống nhất với quy định dự thảo theo hướng trường hợp luật khác quy định về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì việc xác định phạm vi trách nhiệm bồi thường được áp dụng theo luật đó. Tuy nhiên, nhiều quy định về phạm vi trách nhiệm bồi thường có liên quan đến các luật nội dung khác.

Do đó, đại biểu Thái Thị An Chung đề nghị quy định rõ hơn về nguyên tắc áp dụng, theo hướng: Trường hợp luật khác quy định về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được ban hành sau Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì xác định phạm vi trách nhiệm bồi thường theo luật đó. Cách quy định này, theo đại biểu, sẽ góp phần bảo đảm nguyên tắc áp dụng pháp luật.

bna_2hgb6f3re6m6p4im1j7uhyorhgfs6ff5jvao.jpg
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn chủ trì, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định điều hành phiên họp. Ảnh: Viết Chung

Về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, đại biểu thống nhất với việc sửa đổi khoản 9 Điều 17 theo hướng quy định trách nhiệm bồi thường đối với hành vi trái pháp luật trong hoạt động quản lý thuế và các khoản thu khác theo pháp luật quản lý thuế.

Theo đại biểu, quy định này khắc phục hạn chế của phương pháp liệt kê, tránh bỏ sót những trường hợp người nộp thuế bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền trong quản lý thuế nhưng không thuộc các nhóm hành vi được quy định cụ thể.

Đồng thời, việc dẫn chiếu đến pháp luật quản lý thuế giúp bảo đảm sự thống nhất, linh hoạt và hạn chế việc phải thường xuyên sửa đổi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước khi pháp luật về quản lý thuế có thay đổi.

bna_2hgb6f3s0vmml9ist3aynfbcoz85swtcu6fc.jpg
Đại biểu Thái Thị An Chung (Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An) phát biểu thảo luận tại hội trường. Ảnh: Viết Chung

Đáng chú ý, về thời gian có hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường, đại biểu Thái Thị An Chung đồng tình với việc sửa đổi, bổ sung Điều 47, trong đó quy định việc ra quyết định giải quyết bồi thường cả trong trường hợp thương lượng thành và thương lượng không thành.

Tuy nhiên, đại biểu đề nghị cân nhắc kỹ việc kéo dài thời gian quyết định giải quyết bồi thường chưa có hiệu lực từ 15 ngày lên 60 ngày kể từ ngày người yêu cầu bồi thường nhận được quyết định.

Theo đại biểu, quyết định giải quyết bồi thường là kết quả của quá trình xác minh, thương lượng và xác định trách nhiệm bồi thường. Nếu kéo dài thời gian quyết định chưa có hiệu lực sẽ làm chậm thời điểm Nhà nước thực hiện nghĩa vụ bồi thường, trong khi người bị thiệt hại thường đã phải trải qua một quá trình giải quyết kéo dài và cần được bồi thường kịp thời để khắc phục hậu quả.

bna_2hgb6f3pjfnnrvktb47swmk1kq84lxgtuymu.jpg
Đoàn ĐBQH tỉnh dự kỳ họp. Ảnh: Viết Chung

Trường hợp việc kéo dài thời hạn xuất phát từ vướng mắc liên quan đến thời hạn khởi kiện ra Tòa án là 15 ngày, đại biểu đề nghị cần làm rõ mối quan hệ giữa thời hạn có hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường và thời hạn khởi kiện. Nếu cần kéo dài, chỉ nên quy định 30 ngày, tương tự thời hạn có hiệu lực của quyết định giải quyết khiếu nại hành chính.

Bổ sung chi phí giám định vào khoản được bồi thường

Về xác định chi phí hợp lý được bồi thường, đại biểu cho rằng quy định dự thảo giao người giải quyết bồi thường xác minh thiệt hại trong hồ sơ; trường hợp cần thiết có thể đề nghị giám định, định giá tài sản, giám định thiệt hại hoặc sử dụng kết quả giám định do người yêu cầu bồi thường cung cấp là phù hợp, góp phần rút ngắn thời gian và tiết kiệm chi phí.

Tuy nhiên, chi phí định giá tài sản, giám định thiệt hại do người yêu cầu bồi thường chi trả chưa được đưa vào nhóm chi phí hợp lý khác được bồi thường. Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung vào khoản 1 Điều 28 chi phí định giá tài sản, giám định thiệt hại làm căn cứ để người giải quyết bồi thường xác minh thiệt hại.

bna_2hgb6f3pjfincwc3qm8a0gbgwiytsvu0mfho.jpg
Đoàn ĐBQH tỉnh dự kỳ họp. Ảnh: Viết Chung

Về kinh phí thực hiện công tác bồi thường, đại biểu đồng tình với việc sửa đổi Điều 60 nhưng cho rằng nếu ngân sách nhà nước chỉ bảo đảm chi phí định giá tài sản, giám định thiệt hại là chưa bao quát yêu cầu thực tế.

Quá trình xác minh thiệt hại còn bao gồm thu thập, kiểm tra, đối chiếu tài liệu, chứng cứ; xác định thiệt hại thực tế, mức độ thiệt hại, nguyên nhân và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ với thiệt hại xảy ra. Những vụ việc phức tạp có thể phát sinh thêm các hoạt động chuyên môn khác.

Do đó, đại biểu đề nghị tách khoản kinh phí này thành nội dung riêng, trong đó có chi phí hợp lý cho hoạt động xác minh, xác định thiệt hại, bao gồm thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ, định giá tài sản, giám định thiệt hại và các chi phí cần thiết khác theo quy định của pháp luật.

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước phải là luật nền

Góp ý về khoản 1 Điều 4 của dự thảo Luật, đại biểu Hoàng Thị Thu Trang cho rằng cần làm rõ hơn mối quan hệ giữa Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước với các luật chuyên ngành.

Qua rà soát một số luật hiện hành, đại biểu nhận thấy hiện có hai dạng quy định. Thứ nhất, một số luật chuyên ngành quy định trực tiếp về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, như Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Quản lý thuế và Luật Tố cáo.

Thứ hai, một số luật điều chỉnh những lĩnh vực có thể phát sinh trách nhiệm bồi thường nhưng không quy định trực tiếp hoặc không dẫn chiếu đến Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, như Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và Luật Phòng, chống tham nhũng.

bna_2hgb6f3sqevnkdceyytjp2gwpzrh6ltfhaou.jpg
Đại biểu Hoàng Thị Thu Trang (Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An) phát biểu thảo luận tại hội trường. Ảnh: Viết Chung

Thực tế này dẫn đến sự chưa thống nhất giữa Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và một số luật chuyên ngành về phạm vi trách nhiệm bồi thường. Trong khi đó, các nội dung khác như nguyên tắc, trình tự, thủ tục, thẩm quyền, kinh phí và trách nhiệm hoàn trả vẫn được áp dụng thống nhất theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017.

Từ thực tế trên, đại biểu Hoàng Thị Thu Trang cho rằng cách xử lý tại dự thảo là phù hợp, bởi dự thảo chỉ cho phép luật chuyên ngành quy định khác trong trường hợp có quy định về phạm vi trách nhiệm bồi thường. Các nội dung còn lại vẫn thực hiện theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, qua đó bảo đảm một mặt bằng chung về quyền và trách nhiệm của người bị thiệt hại và các chủ thể liên quan.

Đại biểu cũng nhấn mạnh, trong bối cảnh cơ cấu tổ chức bộ máy và phương thức quản trị quốc gia có nhiều thay đổi, các quy định pháp luật trong những lĩnh vực đặc thù như quốc phòng, an ninh, đầu tư, đất đai, thuế sẽ tiếp tục được hoàn thiện. Quốc hội khó có thể liên tục sửa Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để bao quát mọi lĩnh vực có thể phát sinh trách nhiệm bồi thường.

bna_2hgb6f3pjfemfjho1o8imemdqt4dtzh9ahxs.jpg
Đoàn ĐBQH tỉnh dự kỳ họp. Ảnh: Viết Chung

Tuy nhiên, đại biểu cho rằng Điều 4 có vai trò đặc biệt quan trọng vì là điều khoản phân định mối quan hệ giữa Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và luật chuyên ngành. Do đó, quy định cần được thiết kế rõ ràng, chặt chẽ hơn, khẳng định Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là luật nền, còn luật chuyên ngành chỉ được quy định khác trong những trường hợp đặc thù và thực sự cần thiết.

Cụ thể, đại biểu đề nghị thay cụm từ “phạm vi trách nhiệm bồi thường” bằng “căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường”, đồng thời quy định rõ: Việc bồi thường của Nhà nước được thực hiện theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; trường hợp luật khác có quy định về căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường do tính chất đặc thù, thực sự cần thiết của lĩnh vực đó thì áp dụng quy định của luật chuyên ngành.

Theo đại biểu Hoàng Thị Thu Trang, cách thiết kế này vừa tạo sự linh hoạt cho các lĩnh vực đặc thù, vừa giữ được vai trò nền tảng, thống nhất của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong toàn bộ chế độ bồi thường của Nhà nước.