Sáng 22/4, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam; dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về việc thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương.
Hoàn thiện quy định thí điểm để bảo đảm tính khả thi
ĐBQH Nguyễn Phương Thủy (Đoàn thành phố Hà Nội) cho rằng, dự thảo đã đề cập cơ chế đặt hàng và quỹ văn hóa theo hướng chấp nhận rủi ro, tuy nhiên chưa làm rõ cách thức nghiệm thu và quyết toán.
Do đó, đại biểu kiến nghị sửa trực tiếp vào Điều 8 theo hướng quy định rõ: Việc nghiệm thu sản phẩm sáng tạo sử dụng ngân sách phải thông qua hội đồng chuyên môn độc lập; kết luận của hội đồng về giá trị tư tưởng, nghệ thuật là căn cứ chủ yếu để thanh quyết toán.
Đồng thời, tại Điều 11 cần bổ sung nguyên tắc không yêu cầu hoàn trả hoặc thu hồi các chi phí hợp lý đã thực hiện trong trường hợp dự án không đạt hiệu quả kinh tế như dự kiến nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu về chất lượng nghệ thuật. Nếu không làm rõ các nội dung này, thì cơ chế chấp nhận rủi ro sẽ khó đi vào thực chất.
Về các quy định thí điểm trong dự thảo Nghị quyết, đại biểu cho rằng, dự thảo đã thiết kế một loạt chính sách theo hướng thí điểm, trải ở nhiều điều khoản khác nhau và đã bước đầu làm rõ thời gian thí điểm, phổ biến trong khoảng từ 5-10 năm tùy từng chính sách. Tuy nhiên, cách thiết kế nội dung và cơ chế thực hiện vẫn còn nhiều điểm chưa rõ, thậm chí có dấu hiệu chưa thống nhất.
Đại biểu cho biết, về chủ thể thực hiện và quyết định thí điểm, dự thảo còn thiếu nhất quán. Có nội dung giao Chính phủ quy định và tổ chức thực hiện; có nội dung giao chính quyền địa phương chủ động triển khai; trong khi một số nội dung lại sử dụng khái niệm chung chung “Nhà nước thực hiện thí điểm” mà không xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm. Cách quy định này gây khó trong xác định thẩm quyền, đặc biệt khi phát sinh vấn đề cần xử lý hoặc trách nhiệm giải trình.
Về phạm vi và nội dung thí điểm, nhiều quy định mới dừng ở mức cho phép thí điểm mà chưa xác định rõ nội dung nào được phép khác với luật hiện hành, khác ở mức độ nào và trong giới hạn nào. Dự thảo cũng chưa làm rõ về mục tiêu và tiêu chí đánh giá thí điểm. Điều này gây khó khăn trong việc đánh giá hiệu quả và quyết định có nên tiếp tục hay mở rộng phạm vi thí điểm hay không.
Chuyển từ “khẳng định chính sách” sang “thiết kế cơ chế thực thi”
Tham gia thảo luận, ĐBQH Trần Văn Khải (Đoàn tỉnh Ninh Bình) nêu rõ, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hoá Việt Nam chỉ rõ một yêu cầu rất căn bản là phát triển văn hóa Việt Nam phải được đặt trong quan hệ hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, giữa bảo tồn và phát triển, giữa đời sống thực và không gian số, giữa dữ liệu mở và bảo đảm an ninh, chủ quyền văn hóa số.
Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu phát triển văn hóa đến năm 2030 và tầm nhìn 2045 như Nghị quyết của Đảng, cần nhìn thẳng vào ba "điểm nghẽn" lớn đang cản trở phát triển văn hóa Việt Nam hiện nay.
Thứ nhất, tỷ lệ chi ngân sách cho chuyển đổi số và hạ tầng công nghệ của ngành văn hóa vẫn còn khiêm tốn so với nhu cầu. Thứ hai, thiếu hụt nhân lực số đang là "điểm nghẽn" chiến lược của phát triển văn hóa số. Thứ ba, nguồn lực đầu tư từ ngân sách cho phát triển văn hóa nói chung vẫn còn có hạn.
Từ ba "điểm nghẽn" đó, đại biểu Trần Văn Khải đề nghị, tập trung sửa đổi, bổ sung một số nội dung lớn của dự thảo. Một là, sửa Điều 3 theo hướng ngoài việc bảo đảm mức sàn 2% tổng chi ngân sách nhà nước cho văn hóa, cần quy định rõ ưu tiên bố trí kế hoạch đầu tư công trung hạn và dự toán ngân sách hàng năm cho chuyển đổi số văn hóa, hạ tầng dữ liệu văn hóa quốc gia, số hóa di sản đã xếp hạng, bảo quản số lâu dài và an ninh văn hóa số.
Hai là, sửa Điều 7 theo hướng bổ sung nhóm nhân lực trọng điểm gồm AI, dữ liệu lớn, bảo tồn số, công nghệ 3D/AR/VR/XR, quản trị bản quyền số, an ninh mạng, sáng tạo nội dung số; đồng thời cho phép áp dụng cơ chế đặt hàng đào tạo, hợp đồng chuyên gia, tuyển dụng đặc cách theo dự án, chính sách học bổng và đồng tài trợ công - tư để hình thành đội ngũ nhân lực số cho văn hóa.
Ba là, sửa Điều 10 theo hướng quy định rõ chuẩn dữ liệu, trách nhiệm liên thông cơ sở dữ liệu, cơ chế dùng chung nền tảng, yêu cầu an ninh - an toàn - chủ quyền văn hóa số và bộ chỉ số đánh giá thực hiện. Vì vậy, đề nghị luật hóa ngay trong Nghị quyết mốc hoàn thành số hóa 100% di sản văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt vào năm 2026 để bảo đảm đồng bộ với mục tiêu của Nghị quyết 80-NQ/TW.
Bốn là, hoàn thiện Điều 8 và Điều 11. Với Điều 8, cần quy định cụ thể tiêu chí, định mức, phương thức nghiệm thu, cơ chế thanh toán khi phát sinh rủi ro khách quan trong khoán chi. Với Điều 11, cần thiết kế Quỹ văn hóa, nghệ thuật thực sự trở thành công cụ dẫn dắt đổi mới sáng tạo, có thể đầu tư cho startup công nghệ văn hóa, nền tảng nội dung số, mô hình bảo tồn số, nhưng phải có cơ chế quản trị quỹ hết sức chặt chẽ, minh bạch, không để "biến một chủ trương đúng thành một thiết chế rủi ro".
Cũng theo đại biểu, nếu chỉ ban hành một Nghị quyết khẳng định quyết tâm chính trị, thì chúng ta mới đi được "nửa chặng đường". Nửa chặng đường còn lại là phải tạo ra những cơ chế đủ đột phá, đủ cụ thể và đủ khả thi để văn hóa bước ra khỏi tình trạng “đúng nhưng khó làm”, “muốn làm nhưng thiếu nguồn lực”, “có mục tiêu nhưng thiếu công cụ”.
Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội phải chuyển từ “khẳng định chính sách” sang “thiết kế cơ chế thực thi”; trong đó ba trọng tâm bắt buộc là nguồn lực tài chính đủ mạnh, nhân lực số đủ sâu và hạ tầng dữ liệu - nền tảng - an ninh văn hóa số đủ đồng bộ, đại biểu Trần Văn Khải đề nghị.
Hoàn thiện cơ chế bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc thiểu số
ĐBQH Hoàng Ngọc Định (Đoàn tỉnh Tuyên Quang) dành sự quan tâm đến Điều 6 của dự thảo, liên quan đến cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số, nghệ thuật dân gian và kỹ thuật truyền thống.
Theo đại biểu, thực tiễn cho thấy, nơi nào giữ được bản sắc văn hóa thì nơi đó phát triển du lịch bền vững hơn; nơi nào bảo tồn và phát huy được văn hóa trong cộng đồng thì nơi đó có sức hấp dẫn riêng và tạo sinh kế cho người dân.
Tuy nhiên, hiện nay công tác bảo tồn và phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số, đặc biệt là văn hóa dân gian đang đứng trước nhiều thách thức: ngôn ngữ của một số dân tộc dần ít người sử dụng; đội ngũ nghệ nhân ngày càng cao tuổi; việc truyền dạy trong cộng đồng chưa có cơ chế ổn định.
Bên cạnh đó, nhiều thiết chế văn hóa cơ sở đã được đầu tư nhưng hoạt động chưa thường xuyên, thiếu nội dung sinh hoạt, thiếu cơ chế vận hành hiệu quả; chưa thực sự trở thành không gian sinh hoạt, truyền dạy, luyện tập, trình diễn và nuôi dưỡng đời sống văn hóa cộng đồng.
Vì vậy, theo đại biểu cần có các giải pháp đồng bộ, trong đó trọng tâm là xây dựng chính sách hỗ trợ hoạt động truyền dạy, thực hành các loại hình văn hóa, nghệ thuật dân gian, truyền thống, bảo đảm việc trao truyền được thực hiện liên tục, hiệu quả.
Từ thực tiễn địa phương và các phân tích trên, đại biểu đề nghị Điều 6 cần được làm rõ hơn theo hướng cụ thể: Bổ sung nội dung ưu tiên bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số, nhất là tiếng nói, chữ viết và các giá trị văn hóa truyền thống đặc trưng.
Bên cạnh đó, cần bổ sung quy định Nhà nước có chính sách hỗ trợ hoạt động truyền dạy, thực hành các loại hình nghệ thuật dân gian, nghệ thuật truyền thống tại cộng đồng; hỗ trợ nghệ nhân trong việc thực hành và truyền dạy di sản cho thế hệ trẻ. Đây là nội dung có ý nghĩa quyết định để bảo đảm tính liên tục của văn hóa.
Cùng quan điểm này, đại biểu Phạm Văn Hòa (Đoàn Đồng Tháp) cho rằng, ở một số dân tộc thiểu số, tiếng nói và chữ viết đang dần mai một, thậm chí có nguy cơ mất đi. Trong khi đó, các chính sách hiện nay còn mang tính chung chung, chưa tạo được chuyển biến rõ rệt.
Vì vậy, đại biểu đề nghị Nghị quyết cần quy định cụ thể hơn, gắn với mục tiêu và sản phẩm đầu ra rõ ràng, có thể đo lường được sau từng giai đoạn. Thí dụ: Tỷ lệ người biết sử dụng tiếng nói, chữ viết dân tộc; số chương trình giảng dạy, truyền dạy được triển khai…
Đồng thời, cần quan tâm đến việc dạy và giữ gìn tiếng Việt cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, đặc biệt là thế hệ trẻ, để bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh hội nhập.
Tại phiên thảo luận, các đại biểu cũng có nhiều ý kiến đóng góp về cơ chế chấp nhận rủi ro trong đầu tư văn hóa nhằm tháo gỡ những "nút thắt" lớn nhất trong việc triển khai các chính sách văn hóa hiện nay; thiết chế văn hóa ở cơ sở; đối tượng thụ hưởng chính sách đãi ngộ; đào tạo đãi ngộ nhân lực văn hóa, đặc biệt là lực lượng trẻ, các cơ chế về quỹ đất, trụ sở hay thuê mướn tài sản công cho mục đích văn hóa cần phải công khai và có ưu đãi đủ sức hấp dẫn đối với khu vực tư nhân...
Thay mặt cơ quan chủ trì soạn thảo, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh trân trọng tiếp thu đầy đủ các ý kiến của đại biểu Quốc hội, Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh cho biết, những nội dung đã rõ sẽ được hoàn thiện trong dự thảo trình Quốc hội xem xét thông qua; các nội dung còn cần nghiên cứu sẽ tiếp tục được hoàn thiện trong quá trình tổ chức thực hiện và ban hành văn bản hướng dẫn của Chính phủ.



