Đại biểu Quốc hội đề xuất tăng lương, hỗ trợ tài chính khi sinh con và thay đổi cách đánh giá học sinh
Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng 21/4, Quốc hội thảo luận ở hội trường về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2026-2030); công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 và tình hình thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2025. Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng điều hành phiên thảo luận.
Tháo gỡ kịp thời các vướng mắc sau sắp xếp đơn vị hành chính
Vấn đề thời sự được cử tri, Nhân dân quan tâm đã được ĐBQH Nguyễn Đặng Ân (Đoàn Lạng Sơn) phản ánh tại nghị trường Quốc hội là tiếp tục giải quyết các vướng mắc sau khi triển khai chính quyền địa phương 2 cấp.
Đại biểu Nguyễn Đặng Ân khẳng định, sắp xếp đơn vị hành chính và xây dựng chính quyền địa phương 2 cấp là chủ trương lớn, rất đúng đắn. Tuy nhiên, việc bố trí nhân lực và cơ cấu tổ chức cũng bộc lộ một số bất cập cần điều chỉnh kịp thời để bộ máy hoạt động hiệu quả hơn.
Đại biểu nêu thực tế, số lượng các phòng chuyên môn tại đơn vị hành chính cấp xã hiện nay có 2 phòng là phòng Kinh tế và phòng Văn hóa - Xã hội chưa chuyên sâu. Một phòng chịu sự quản lý, hướng dẫn chuyên môn của 5 đến 6 sở, dẫn đến quá tải. Việc thực hiện tổ chức các phòng theo Nghị định 370 của Chính phủ rất cần sớm có văn bản hướng dẫn cụ thể, định hướng để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ trong phạm vi cả nước.
Hơn nữa, cán bộ, công chức cấp xã một số nơi còn thiếu về số lượng và rất thiếu công chức có chuyên môn sâu như: xây dựng, giao thông, công nghệ thông tin. Trong khi chức năng nhiệm vụ và khối lượng công việc được giao rất lớn và thực hiện trực tiếp với người dân, doanh nghiệp nhiều hơn so với cán bộ, công chức cấp xã trước khi sắp xếp.
Do đó, đại biểu Nguyễn Đặng Ân đề nghị nghiên cứu lộ trình đào tạo và đào tạo lại cho cán bộ cấp xã để đáp ứng yêu cầu; rà soát tổng thể các địa phương trên các tiêu chí: diện tích, dân số, có tính đến các yếu tố đặc thù như miền núi, biên giới, bãi ngang, hải đảo để giao biên chế phù hợp với thực tiễn.
Tăng lương để đảm bảo đời sống
Phát biểu về tiến trình cải cách chính sách tiền lương, ĐBQH Thạch Phước Bình (Đoàn Vĩnh Long) khẳng định, việc điều chỉnh mức lương cơ sở không chỉ mang ý nghĩa kỹ thuật, mà còn là yếu tố quyết định trực tiếp đến đời sống, động lực làm việc và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.
Trong những năm gần đây, Nhà nước đã có những bước điều chỉnh tích cực khi nâng mức lương cơ sở từ 1,49 triệu đồng lên 1,8 triệu đồng, 2,34 triệu đồng/tháng và dự kiến tiếp tục tăng lên 2,53 triệu đồng từ ngày 1/7/2026. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra hiện nay không còn là “có tăng hay không”, mà là tăng ở mức nào để vừa bảo đảm đời sống, vừa phù hợp với khả năng ngân sách, đồng thời tạo động lực phát triển khu vực công.
Đại biểu Thạch Phước Bình đánh giá mức 2,53 triệu đồng/tháng từ 1/7/2026 là một bước tăng hợp lý về mặt kỹ thuật, nhưng chưa đủ mạnh để bảo đảm đời sống cho đa số người làm khu vực công. Đại biểu nêu thực tế, một công chức mới vào nghề với hệ số 1,86 chỉ đạt khoảng 4,7 triệu đồng/tháng (trước khi trừ bảo hiểm).
Trong khi chi phí sinh hoạt tối thiểu tại đô thị phổ biến khoảng 6-7 triệu đồng/tháng. Điều này cho thấy một khoảng cách đáng kể giữa thu nhập và nhu cầu sống cơ bản. Hệ quả là, người lao động khó sống độc lập bằng lương, phải phụ thuộc vào nguồn thu nhập bổ sung; giảm động lực và chất lượng cuộc sống. Do đó, mức 2,53 triệu đồng chỉ đạt mục tiêu ổn định, chưa đạt mục tiêu bảo đảm đời sống.
Bên cạnh đó, áp lực chi tiêu cũng không hề nhỏ, nhiều nhóm chi phí thiết yếu tăng nhanh hơn CPI chung, như nhà ở, điện, nước và vật liệu xây dựng tăng 8,30%, còn thuốc và dịch vụ y tế tăng 12,92%. Vì vậy, dù lương cơ sở tăng 8,12%, cảm nhận thực tế của nhiều người vẫn có thể là “đỡ hơn trước” chứ chưa đạt mức an tâm, nhất là khi còn nuôi con, thuê nhà, đi lại, học hành và chăm sóc y tế.
Từ các phân tích thực tiễn về thu nhập và chi phí sống, đại biểu Thạch Phước Bình cho rằng, mức 2,65 – 2,70 triệu đồng/tháng như một phương án hợp lý và khả thi hơn trong giai đoạn hiện nay. Đây là mức tăng có ý nghĩa rõ rệt đối với nhóm thu nhập thấp. Quan trọng hơn, mức này giúp thu hẹp khoảng cách với lương tối thiểu vùng của khu vực doanh nghiệp; giảm áp lực thiếu hụt chi tiêu thiết yếu.
Về mặt đời sống và tâm lý xã hội, mức tăng lên 2,65 – 2,70 triệu đồng tuy chưa thể bảo đảm hoàn toàn “sống được bằng lương” ở đô thị lớn, nhưng có ý nghĩa quan trọng giúp người lao động giảm phụ thuộc vào nguồn thu nhập ngoài lương; tạo cảm nhận rõ ràng về sự cải thiện thu nhập, thay vì chỉ “tăng danh nghĩa”; góp phần ổn định tâm lý và nâng cao động lực làm việc.
Hỗ trợ tài chính dài hạn cho các gia đình sinh con và nuôi con nhỏ
Quan tâm đến vấn đề già hóa dân số nhanh, tỷ suất sinh giảm thấp hơn mức sinh thay thế, ĐBQH Lê Ngọc Linh (Đoàn Cà Mau) nêu số liệu, tổng tỷ suất sinh của Việt Nam hiện chỉ còn khoảng 1,91 con/phụ nữ, thấp hơn mức sinh thay thế là 2,1 con. Đây là dấu hiệu cho thấy quy mô gia đình ngày càng thu nhỏ, số trẻ em sinh ra không đủ để duy trì quy mô dân số ổn định trong dài hạn.
Trong đó, năm 2022, mức sinh tương đối ổn định quanh mức thay thế gần 2,1 con; năm 2023, mức sinh giảm xuống còn khoảng 1,96 con/phụ nữ; năm 2024 tỷ lệ này tiếp tục giảm xuống còn 1,91 con/phụ nữ. Bên cạnh đó, Việt Nam đang chuyển từ giai đoạn dân số vàng sang dân số già với tốc độ nhanh; tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên ngày càng tăng, trong khi lực lượng lao động trẻ lại có xu hướng giảm mạnh.
Để từng bước khắc phục tình trạng mức sinh thấp và những hệ lụy đi kèm, đại biểu Lê Ngọc Linh đề xuất Chính phủ, Quốc hội điều chỉnh chính sách dân số theo hướng chuyển mạnh từ kế hoạch hóa gia đình sang duy trì mức sinh thay thế một cách bền vững. Khuyến khích các cặp vợ chồng sinh đủ 2 con, coi đây là trách nhiệm xã hội gắn với phát triển bền vững của đất nước.
Cùng với đó, Nhà nước cần có các chính sách hỗ trợ tài chính dài hạn cho các gia đình sinh con và nuôi con nhỏ như: hỗ trợ chi phí sinh con, chăm sóc trẻ em, mở rộng chính sách miễn giảm chi phí y tế cho trẻ em; có chính sách thuế ưu đãi đối với hộ gia đình nuôi con nhỏ.
Tập trung đầu tư hệ thống dịch vụ đồng bộ, chất lượng; mở rộng mạng lưới nhà trẻ, trường mầm non (đặc biệt tại khu đô thị và khu công nghiệp). Phát triển các dịch vụ trông trẻ ngoài giờ, dịch vụ linh hoạt. Song song đó, có chính sách hỗ trợ nhà ở, tạo việc làm ổn định, nâng cao thu nhập cho các cặp vợ chồng trẻ để họ yên tâm lập gia đình và sinh con.
Đề xuất thay đổi cách đánh giá học sinh, không chạy theo điểm số
Thảo luận về tình hình kinh tế - xã hội, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu Đặng Ngọc Huy cho rằng, bên cạnh những kết quả đạt được, nền giáo dục hiện vẫn đối mặt với "căn bệnh trầm kha" là chạy theo thành tích.
Ông dẫn chứng tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông nhiều năm duy trì trên 98%, song các khảo sát năng lực độc lập lại cho thấy không ít học sinh ra trường thiếu kỹ năng tư duy phản biện, thiếu khả năng làm việc nhóm và chưa có nền tảng để học tiếp hoặc làm việc trong môi trường thực tế.
Đại biểu cho rằng, nhiều giáo viên và nhà trường bị cuốn vào vòng xoáy thi đua phải làm đẹp điểm số, tô hồng báo cáo. "Không phải vì họ thiếu lương tâm mà vì hệ thống buộc họ phải như vậy", đại biểu nói, đồng thời chỉ ra cơ chế thi đua hiện nay gắn với chỉ tiêu, chỉ tiêu gắn với tỷ lệ, còn tỷ lệ lại gắn với thành tích, khiến thành tích không còn phản ánh đúng thực chất mà trở thành áp lực đè lên giáo viên và hệ thống giáo dục.
Trong bối cảnh đó, học sinh chịu áp lực học để đạt điểm cao, vào trường chuyên, có Bằng khen, thay vì học để hiểu biết, sáng tạo và phát triển bản thân. Các em ít có cơ hội được rèn luyện cách đặt câu hỏi, cách chấp nhận thất bại và đứng dậy, cách trở thành chính mình. Hệ quả là học sinh mất dần niềm vui học tập và động lực khám phá, giáo viên kiệt sức vì áp lực hình thức, còn xã hội dần mất niềm tin vào chất lượng giáo dục.
Từ thực tế này, đại biểu đề nghị Quốc hội và Chính phủ cải cách toàn diện cơ chế thi đua, khen thưởng trong ngành Giáo dục, trong đó trọng tâm là thay đổi cách đánh giá học sinh. Các tiêu chí hình thức như tỷ lệ đỗ, tỷ lệ học sinh giỏi cần được loại bỏ, thay bằng hệ thống đánh giá dựa trên tiến bộ thực chất của người học theo thời gian.
Phương pháp đánh giá cũng cần chuyển sang coi trọng năng lực tư duy, khả năng thực hành, kỹ năng sống và phẩm chất. Đồng thời, ngành Giáo dục cần giảm áp lực hành chính, "bệnh báo cáo" cho giáo viên, đi kèm với cơ chế giám sát độc lập và minh bạch hóa dữ liệu.
Theo đại biểu, thế hệ trẻ Việt Nam có đủ trí tuệ, sáng tạo và ý chí để vươn ra thế giới, nhưng điều các em cần không phải là những tấm Bằng khen mà là một nền giáo dục trung thực, nhân văn, giúp phát triển đúng năng lực. Một nền giáo dục thật, dạy thật, học thật, thi thật sẽ tạo ra những con người có năng lực thật, phẩm chất thật. Đó mới là thành tích cao nhất mà đất nước cần hướng tới.



