Ẩn sâu trong những guồng tre, máng gỗ từng oằn mình chống chọi với những mùa lũ dữ ấy là một hệ sinh thái truyền thống, gắn bó với thiên nhiên, khơi gợi một tư duy thấu cảm: Biến tri thức bản địa thành nền tảng vững chắc cho chiến lược kinh tế xanh của miền Tây xứ Nghệ.

Cọn nước và Mương – Phai – Lái – Lín: Hệ sinh thái - “Kỳ quan” trị thủy và trí tuệ bản địa

Địa hình miền Tây Nghệ An là những nếp gấp điệp trùng, có nhiều dốc đứng và hiểm trở. Để sinh tồn và kiến tạo nên những thung lũng trù phú như Mường Nọc (Quế Phong) hay Mường Quạ (Môn Sơn), vùng thung lũng biên giới Tam Quang, Yên Hòa (Tương Dương cũ), các địa bàn miền núi, đồng bào Thái và các dân tộc anh em nơi đây đã giải một bài toán thực tiễn vĩ đại: Chinh phục nguồn nước. Bằng sự quan sát và nương tựa vào tự nhiên, họ đã tạo ra một mạng lưới kỹ thuật liên hoàn, tinh vi và đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn từ xa xưa cho đến tận ngày nay.

Cọn nước là công cụ quen thuộc trong canh tác nông nghiệp

Đó là một tổ hợp hoàn chỉnh, tạo nên sự liên hoàn trong công tác trị thủy truyền thống: Phai (đập dâng) được đan cài khéo léo từ tre, gỗ, đá cuội để nắn dòng nhẹ nhàng. Từ phai, mương được khai đào men theo triền núi, chân ruộng để dẫn nước. Độ chênh lượn, độ ngậm nước của đất được người dân đo đạc tài tình chỉ bằng kinh nghiệm cắm mũi dao rựa xuống bùn sâu. Để tăng áp lực nước, những chiếc lái (phai phụ) với thiết kế miệng máng hình chữ V tài tình được dựng lên, đưa nước từ mương đến những thửa ruộng riêng lẻ.

Khi gặp vách đá chênh vênh hay khe sâu, lín (máng dẫn được đục rỗng nguyên hoặc bửa đôi từ thân cây luồng, tre hoặc cây cọ) sẽ làm nhịp cầu dẫn nước. Các ống máng có tác dụng đưa nước vào các thửa ruộng gần mương, đưa nước từ ruộng trên xuống ruộng dưới hoặc tháo khô cho ruộng khi cần thiết. Và mảnh ghép cuối cùng, “hùng vĩ”, quan trọng nhất trong tổ hợp ấy, chính là cọn nước (láng pặt) – chiếc "máy bơm vĩnh cửu" mang biểu tượng kiêu hãnh của nền nông nghiệp trồng trọt miền Tây xứ Nghệ. Nhìn từ xa, những chiếc bánh xe tre, nứa khổng lồ lầm lũi quay dưới suối trong sương mờ không chỉ gánh vác sứ mệnh tưới tiêu, mà đã hóa thành một nốt son tuyệt đẹp điểm tô cho bức tranh sơn thủy hữu tình, hoang sơ và quyến rũ ở các vùng thung lũng xứ Nghệ.

Dọc dòng suối mát lành, các cọn nước được dựng lên để dẫn nước vào ruộng đồng, khơi gợi vẻ đẹp thanh bình

Đi sâu vào cấu tạo, cọn nước hiện lên như một "kỳ quan cơ khí" thô sơ nhưng chuẩn xác đến ngỡ ngàng. Theo lời kể của ông Vi Văn Tình – một người dân tại xã Bình Chuẩn gắn bó nhiều năm với công việc này, để hoàn thiện một guồng cọn, người thợ phải mất khoảng 2-3 ngày ròng rã chuẩn bị. "Xương sống" của toàn bộ công trình là chiếc trục guồng (lay) vững chãi. Tùy theo sản vật của từng vùng, những nghệ nhân bản địa sẽ chọn đích xác các loại gỗ lõi siêu bền như táu, dổi, vàng tâm hay mít làm điểm tựa. Từ trục trung tâm, hàng trăm chiếc nan mét, ống nứa vươn ra, đan kết chặt chẽ bằng vô số lạt mây và dây rừng dẻo dai để tạo thành một chiếc bánh xe khổng lồ sừng sững nơi dòng nước.

Để cỗ máy này có thể vận hành, đưa nước lên máng lín, người thợ đã khéo léo gắn thêm các phên gạt nước dọc theo vành bánh xe nhằm đón trọn sức đẩy mạnh mẽ của dòng chảy tự nhiên. Sự tài hoa của người thợ thủ công còn đạt đến đỉnh cao "kỹ nghệ" ở cách bố trí dọc theo chính vành guồng ấy: Hàng chục ống nứa múc nước (boòng nặm) được buộc chếch đúng góc 30 độ. Góc nghiêng tối ưu này giúp cọn vớt được lượng nước nhiều nhất. Mọi chuyển động đều mượn sức nước để đẩy nước, nhịp nhàng và bất tận. Sự kỳ diệu của cỗ máy này nằm ở chỗ: Nó giải phóng sức lao động, mượn chính sức nước tự nhiên để tưới tiêu mà tuyệt đối không cần sử dụng đến bất kỳ nguồn nhiên liệu nào. Đây đích thực là một giải pháp nông nghiệp thông minh và hoàn toàn thân thiện với môi trường.

Cọn nước góp phần điểm tô vẻ đẹp của người phụ nữ Thái giữa khung cảnh núi rừng nên thơ tạo nên nét riêng của miền núi Tây Nghệ An

Âm thanh của những chiếc cọn nước từ lâu đã trở thành thanh âm đặc trưng của miền Tây xứ Nghệ. Đó là một bản hòa ca rì rầm, miệt mài ngày đêm của núi rừng, được hòa quyện trọn vẹn giữa tiếng róc rách của nước nơi đại ngàn và tiếng cọt kẹt đều đặn của guồng tre nứa quay bên triền suối. Khung cảnh những chiếc cọn nước âm vang đêm ngày tưới tắm cho ruộng đồng, dẫn nguồn nước sinh hoạt cho cộng đồng đã dệt nên một không gian văn hóa êm đềm. Vượt ra khỏi giá trị công năng tưới tiêu, những guồng cọn đã đi vào các câu chuyện dân gian, trở thành biểu tượng và niềm tự hào văn hóa mang đậm bản sắc của đồng bào các dân tộc vùng cao. Chính vẻ đẹp bình dị, mộc mạc mà nên thơ ấy giữa cánh đồng lúa đang hóa thành tài nguyên du lịch sinh thái vô giá, có khả năng chạm vào cảm xúc của du khách, khơi gợi lòng tự hào và ý thức bảo tồn di sản của dân tộc.

Không dừng lại ở công năng trị thủy và phục vụ sản xuất thuần túy, những guồng cọn nước đang ngày càng khẳng định một giá trị vô giá khác: Kiến tạo cảnh quan tuyệt đẹp cho du lịch cộng đồng. Giữa không gian bao la của đại ngàn, điểm xuyết khung cảnh bản làng với những nếp nhà sàn, khung cửi và mảng màu xanh mướt của những thửa ruộng bậc thang, những chiếc cọn khổng lồ lầm lũi quay trong sương mờ như một kiệt tác nghệ thuật sắp đặt vĩ đại của con người và tạo hóa. Vẻ đẹp mộc mạc, hoang sơ cùng thanh âm “cọt kẹt” nhịp nhàng hòa lẫn tiếng suối róc rách đã tạo nên một sức hút mãnh liệt. Nó biến những thung lũng xa xôi thành những điểm đến sinh thái độc đáo, thu hút dòng khách du lịch muốn tìm về chốn bình yên, chữa lành tâm hồn – một không gian nguyên sơ, gắn kết trọn vẹn với thiên nhiên mà không có bất kỳ khu du lịch nhân tạo đắt tiền nào có thể mang lại được. Chính thứ tài nguyên cảnh quan độc bản này đang mở ra một hướng đi đầy triển vọng: Nếu được đánh thức bằng những cơ chế phù hợp, cọn nước sẽ không chỉ là vai trò công cụ lao động thuần túy mà sẽ trở thành đòn bẩy đánh thức nền kinh tế xanh cho vùng cao.

Triết lý nhân sinh và giá trị thực tiễn không thể thay thế

Sức sống mãnh liệt của mương – phai – lái – lín - cọn nước không chỉ nằm ở những cấu trúc tre nứa, mà bám rễ sâu vào thiết chế quản trị cộng đồng từ sớm. Người Thái quan niệm nước là linh hồn: "Mi nặm chắng mi mương, mi mường chắng mi tạo" (có nước mới có bản mường, có bản mường mới có người làm chủ). Triết lý ấy đã đi vào tiềm thức, khiến đồng bào xem thủy lợi là sinh mệnh: "Pó tai khư phai lớ" (Phai vỡ như cha chết).

Chính vì xem nguồn nước là linh hồn, việc chế tác hệ thống dẫn nước này đòi hỏi một sự am hiểu thiên nhiên đến mức tường tận. "Làm cọn nước là điều bắt buộc ở những vùng địa hình dốc, nơi mương xi măng không thể vươn tới. Nhưng không phải cứ biết chẻ tre là làm được," ông Vi Văn Tình tiếp tục chia sẻ. "Phải biết nước chảy hướng nào, đất nghiêng ra sao. Làm sai, nước không về, mà còn hỏng cả rừng tre, nứa."

Với vẻ ngoài độc đáo, chúng không chỉ phục vụ tưới tiêu mà còn trở thành điểm nhấn văn hóa của người Thái ở miền Tây Nghệ An, mang sức hút đặc biệt đối với những ai yêu thích khám phá và trải nghiệm văn hóa bản địa

Hệ thống mương – phai – lái – lín – cọn vì thế không chỉ là một phương thức dẫn nước đơn thuần. Nó là kết tinh của kinh nghiệm sống, của sự quan sát thiên nhiên qua nhiều thế hệ. Người ta không cưỡng lại dòng chảy, mà tìm cách đi cùng nó; vận dụng nó vào đời sống. Những tri thức quý giá ấy không được viết thành sách. Nó được trao truyền từ người già sang người trẻ qua từng động tác: cách vót nan tre, chọn ống nứa, cách chọn vị trí đặt cọn. Phải đứng đủ lâu, nhìn đủ sâu, mới nhận ra đó là một hệ thống tri thức hoàn chỉnh – một “bộ nhớ văn hóa” giúp cộng đồng tồn tại giữa đại ngàn khắc nghiệt.

Từ tư tưởng và "bộ nhớ" ấy, "bộ luật tục" bảo vệ nguồn nước gắn liền với việc giữ rừng thiêng đầu nguồn đã ra đời. Hương ước quy định rành rọt trách nhiệm của từng hộ gia đình trong việc tu sửa phai, lín, dựng lại cọn sau mùa lũ. Chính tinh thần tự quản này đã nuôi sống bản mường qua bao thế kỷ.

Hơn thế nữa, cần phải nhìn nhận rằng, hệ thống mương phai, cọn nước thủ công vẫn đang mang tải những giá trị thường nhật không thể thay thế. Đối với hàng trăm hộ dân nơi vùng khó khăn, hệ thống này là "hơi thở" của sản xuất và sinh hoạt mỗi ngày. Về mặt kinh tế, trong bối cảnh giá cả vật tư nông nghiệp biến động, việc vận hành một hệ thống tưới tiêu "không đồng" chính là bệ đỡ giúp giảm chi phí sản xuất cho người nông dân. Về mặt công năng, ở những chân ruộng bậc thang nhỏ lẻ, xa xôi, cọn nước và máng lín là giải pháp linh hoạt nhất để đưa nước đến từng góc ruộng mà máy móc hiện đại khó vươn tới.

Sức bền “di sản” trước thử thách thiên tai và nỗi trăn trở đứt gãy

Trong hành trình xây dựng Nông thôn mới hiện nay, việc kiên cố hóa hạ tầng thủy lợi là chủ trương đúng đắn, mang lại diện mạo khang trang và năng suất ổn định cho nhiều vùng quê. Vẻ đẹp của cọn nước hay hệ thống mương, phai, lái, lín tại Nghệ An cũng như các vùng núi Thanh Hóa, Tây Bắc từ lâu đã được nhiều báo đài ghi nhận như một “kiệt tác nghệ thuật”, tạo nên cảnh sắc và bản sắc tuyệt vời cho rẻo cao. Nhưng ở một góc nhìn khác, tại những chân ruộng bậc thang hay địa hình núi dốc hiểm trở của miền núi, hệ thống thủy lợi cổ truyền này vẫn chứng minh được giá trị "thuận thiên" không thể thay thế. Nó linh hoạt, mềm mại và hài hòa tuyệt đối với cảnh quan "di sản".

Đằng sau vẻ đẹp hùng vĩ ấy, để giữ "nhựa sống" cho những guồng quay, đồng bào đang phải đối mặt với thực tại khắc nghiệt. Biến đổi khí hậu, lũ ống, lũ quét ngày càng khó lường, sẵn sàng cuốn phăng công sức cả năm trời chỉ trong một đêm. Sau mỗi mùa lũ dữ, bà con lại phải tập kết vật liệu, chẻ lạt, tỉ mẩn dựng lại từng guồng cọn, khơi dòng mương, phai. Đó là một nỗ lực nhẫn nại phi thường trước sự khắc nghiệt của thiên nhiên, nhằm duy trì "mạch sống" cho sinh hoạt và sản xuất của cả cộng đồng. Tuy nhiên, do chưa được định danh theo tư duy quản lý chuỗi hệ thống, cộng với chi phí và công sức bảo trì quá lớn, "di sản" cọn nước đang sụt giảm mạnh. Những bãi cọn sừng sững một thời tại Châu Tiến (Quỳ Châu), Quế Phong, hay vùng thung lũng xã Yên Hòa, Tương Dương, Môn Sơn (Con Cuông) ngày càng thưa thớt.

Thực tế đáng lo ngại hơn cả là sự đứt gãy trong quá trình trao truyền di sản, khi lớp thanh niên bản địa ngày càng xa dần kỹ nghệ đan lát, dựng cọn truyền thống. Hiện tại, trước gánh nặng chi phí và sự thiếu hụt nhân lực, việc tu bổ, phục dựng cọn nước hàng năm tại các vùng cao đành phải do chính quyền cơ sở đứng ra gánh vác. Nêu lên thực trạng đầy trăn trở này, ông Kha Văn Viễn - Phó Chủ tịch HĐND xã Bình Chuẩn chia sẻ: "Bà con vùng cao sống không thể thiếu cọn nước, nhưng cứ sau mỗi trận lũ dữ là tài sản, công sức lại trôi sông. Xã rất muốn hỗ trợ đồng bào phục dựng để giữ sinh kế và bản sắc, nhưng nguồn ngân sách địa phương quá eo hẹp, lực lượng thanh niên lại đi làm ăn xa. Nếu không có cơ chế hỗ trợ đặc thù từ cấp trên, chính quyền cơ sở thực sự lực bất tòng tâm".

Lời bộc bạch ấy cho thấy chúng ta đang thực sự đứng trước nguy cơ đánh mất vĩnh viễn một hệ sinh thái tri thức quý giá. Điều này đòi hỏi sự thấu cảm và điều chỉnh linh hoạt trong quy hoạch cấp tỉnh, tránh làm mai một những "mạch máu" tri thức bản địa vốn đã nuôi sống bản mường qua bao thế kỷ

Những chiếc cọn nước đã đi cùng bao nhiêu lớp người miền sơn cước trong đời sống hàng ngày

Kiến tạo bệ đỡ chính sách: Từ sinh kế bản mường đến nền tảng kinh tế xanh

Thực tiễn bức tranh thủy lợi và canh nông miền núi đã và đang đặt ra một yêu cầu cấp thiết: Bảo tồn, phát huy "di sản" cọn nước phải đi liền với việc bảo vệ công sức, mồ hôi của đồng bào sau mỗi mùa lũ dữ. Quan điểm chính sách đúng đắn trong kỷ nguyên mới chính là kiến tạo và đồng hành. Thiết nghĩ, song song với sự đầu tư bứt phá từ chương trình Nông thôn mới, cần có những giải pháp đặc thù để bảo vệ hệ sinh thái xanh truyền thống theo hướng "kiến tạo nền tảng":

Thứ nhất, lồng ghép cơ chế hỗ trợ tài chính linh hoạt: Cần đưa hệ thống mương, phai, cọn nước vào danh mục được thụ hưởng từ các Chương trình Mục tiêu quốc gia và chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp của tỉnh. Việc chính sách hóa một khoản kinh phí định kỳ sẽ đảm bảo sự ổn định để bà con xây dựng, khôi phục và bảo dưỡng hệ thống này sau mỗi mùa mưa lũ.

Thứ hai, phân vùng quy hoạch thủy lợi đặc thù: Tại các khu vực di sản hoặc vùng địa hình dốc phức tạp, cần bổ sung "duy trì hệ thống thủy lợi truyền thống" vào nhóm tiêu chí Nông thôn mới cấp bản, đi kèm với cơ chế hỗ trợ đầu tư riêng để gìn giữ trọn vẹn giá trị cảnh quan và tri thức dân gian.

Thứ ba, kinh tế hóa “di sản” gắn với du lịch cộng đồng: Biến cọn nước, máng lín thành tài nguyên du lịch xanh. Cần ưu tiên lồng ghép nguồn lực từ các đề án du lịch để định hướng các " bản cọn nước" thành điểm đến sinh thái cốt lõi của miền Tây Nghệ An, biến di sản thành sinh kế bền vững nhờ sức hút đối với du khách thập phương.

Thứ tư, thể chế hóa luật tục bảo vệ tài nguyên: Linh hoạt lồng ghép các quy định bảo vệ rừng đầu nguồn, nguồn nước và hệ thống cọn nước vào hương ước, quy ước bản làng. Phát huy tối đa sức mạnh tự quản và ý thức trách nhiệm của cộng đồng.

Thứ năm, vinh danh và hỗ trợ nghệ nhân qua không gian truyền nghề: Sớm có chính sách biểu dương và hướng dẫn lập hồ sơ đề nghị phong tặng danh hiệu cho các nghệ nhân am hiểu kỹ thuật làm cọn. Đồng thời, hỗ trợ kinh phí mở các lớp truyền dạy nghề đan lát, dựng cọn tại địa phương để trao truyền di sản, giữ nhịp cho mạch sống vùng cao.

*****

Hệ thống mương – phai – lái – lín – cọn, “cụm di sản” của nền nông nghiệp thung lũng và trí tuệ bản địa, đã kết tinh thành những nốt son đặc sắc điểm tô cho bức tranh đại ngàn vùng cao. Ở đó, công năng và hiệu quả mà chúng mang lại chưa bao giờ trễ nhịp so với sự phát triển của thời đại. Trái lại, triết lý nương tựa, hài hòa với thiên nhiên ấy đang gợi mở cho chúng ta những giải pháp thông minh để kiến tạo nền nông nghiệp sinh thái. Bảo tồn tri thức bản địa trong dòng chảy hiện đại hóa không có nghĩa là khước từ sự phát triển, mà là kiến tạo một không gian phù hợp để di sản tiếp tục sống và dung dưỡng cộng đồng. Nét đẹp sơn thủy hữu tình của những guồng cọn lầm lũi quay trong sương mờ là một không gian sinh thái đặc thù chỉ có thể hiện hữu nơi non cao. Bởi vậy, một chính sách hỗ trợ kịp thời, thấu tình đạt lý, biết hài hòa giữa vươn tới thành tựu Nông thôn mới và việc nâng niu "di sản" truyền thống chính là quyết sách nhân văn nhất. Có như vậy, tiếng rì rầm của suối ngàn hòa cùng nhịp quay của cọn nước mới còn ngân vang mãi, vững chãi trở thành nền tảng cho một nền kinh tế xanh và bền vững nơi dải đất miền Tây xứ Nghệ.

Nghệ An, tháng 4/2026