Từ thực tiễn triển khai nhiệm vụ giám sát tại địa bàn, Tổ đại biểu số 19 HĐND tỉnh Nghệ An đã từng bước đổi mới phương pháp hoạt động, chú trọng chuẩn bị từ sớm, giám sát có trọng tâm, trọng điểm và hướng đến những vấn đề thực chất.
Qua thực tiễn triển khai giám sát chuyên đề về việc tổ chức, vận hành chính quyền địa phương sau sắp xếp đơn vị hành chính và thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp tại địa bàn các xã Quỳ Châu, Châu Tiến, Châu Bình và Hùng Chân, Tổ đại biểu số 19 HĐND tỉnh Nghệ An thấy rằng: khi hoạt động giám sát được chuẩn bị kỹ, bám sát cơ sở, đi vào những vấn đề thực chất và theo dõi đến cùng việc giải quyết kiến nghị, vai trò của Tổ đại biểu được phát huy rõ hơn, đồng thời tạo thêm kênh thông tin quan trọng để HĐND tỉnh xem xét, quyết định những vấn đề sát với thực tiễn.

Tổ đại biểu số 19 HĐND tỉnh giám sát chuyên đề
Chủ động từ khâu chuẩn bị – nền tảng của một cuộc giám sát thực chất
Thực tiễn cho thấy, chất lượng giám sát không chỉ được quyết định ở thời điểm làm việc trực tiếp với đơn vị chịu sự giám sát mà phụ thuộc rất lớn vào công tác chuẩn bị trước giám sát. Nhận thức rõ điều đó, trong quá trình triển khai nhiệm vụ, Tổ đại biểu số 19 đã chủ động chuẩn bị các điều kiện cần thiết phục vụ hoạt động giám sát, trên cơ sở bám sát kế hoạch của Đoàn giám sát HĐND tỉnh và yêu cầu thực tiễn của địa bàn.
Sau khi có kế hoạch của Đoàn giám sát HĐND tỉnh, Tổ chủ động xây dựng kế hoạch triển khai, xác định rõ phạm vi, nội dung, đối tượng, thời gian, phương pháp thực hiện; đồng thời, xây dựng đề cương giám sát chi tiết hơn, phù hợp với quy mô thành viên tổ và địa bàn, làm cơ sở để các đơn vị chịu sự giám sát chuẩn bị báo cáo, số liệu, hồ sơ và các tài liệu liên quan. Việc xây dựng đề cương được thực hiện theo hướng không chỉ yêu cầu báo cáo kết quả đạt được mà tập trung làm rõ những nội dung có ý nghĩa đối với công tác giám sát như: kết quả thực hiện; những tồn tại, hạn chế; khó khăn, vướng mắc; nguyên nhân; trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị; giải pháp khắc phục và kiến nghị, đề xuất.
Đây là bước chuẩn bị có ý nghĩa quan trọng, bởi nếu đề cương chỉ dừng ở việc yêu cầu báo cáo chung thì rất khó tạo ra cơ sở để đánh giá sâu. Ngược lại, khi nội dung được đặt thành những vấn đề cụ thể, các đơn vị phải rà soát thực chất hơn, còn đại biểu có cơ sở để nghiên cứu, đối chiếu và đặt câu hỏi.
Tổ đại biểu cũng chú trọng nghiên cứu trước các báo cáo, số liệu và tài liệu do các địa phương cung cấp; bước đầu nhận diện những nội dung cần tiếp tục làm rõ, những vấn đề có sự khác biệt giữa số liệu báo cáo và tình hình thực tế hoặc những nội dung còn có dấu hiệu chưa được giải quyết dứt điểm.
Tổ xác định rằng, một cuộc giám sát có chất lượng không bắt đầu từ buổi làm việc tại địa phương, mà bắt đầu từ khâu nghiên cứu hồ sơ. Thành viên Tổ đại biểu đọc trước báo cáo, đối chiếu số liệu, xác định những nội dung chưa rõ, những vấn đề còn có sự chênh lệch giữa kết quả báo cáo và yêu cầu thực tiễn. Thành viên tổ cùng trao đổi các vấn đề và xác định các nội dung trọng tâm sẽ trao đổi sâu với các đơn vị được giám sát. Xây dựng trước một hệ thống câu hỏi theo từng nhóm vấn đề: Việc gì đã thực hiện? Kết quả đến đâu? Nội dung nào chưa đạt? Vì sao chưa đạt? Ai có trách nhiệm? Vướng ở quy định nào? Cần cấp nào giải quyết? Nếu không được tháo gỡ thì tác động gì đến người dân và hoạt động của chính quyền?
Đây là phương pháp giúp đại biểu không bị cuốn theo nội dung của báo cáo mà chủ động dẫn dắt cuộc giám sát đi vào trọng tâm.
Qua đó, công tác chuẩn bị không còn mang tính hình thức mà trở thành một bước của quá trình giám sát, giúp đại biểu chủ động về nội dung, phương pháp và những vấn đề cần tập trung khi làm việc tại cơ sở.
Từ “nghe báo cáo” đến “đối chiếu, kiểm chứng và làm rõ vấn đề”
Một trong những yêu cầu quan trọng để nâng cao chất lượng giám sát là không dừng lại ở việc nghe và ghi nhận báo cáo của đơn vị chịu sự giám sát. Từ thực tiễn hoạt động, Tổ đại biểu số 19 xác định báo cáo của địa phương là nguồn thông tin ban đầu, nhưng chưa phải là toàn bộ kết quả giám sát.
Báo cáo của các địa phương cho thấy, sau sắp xếp, bộ máy chính quyền cơ sở từng bước được kiện toàn, hoạt động ổn định. UBND xã được tổ chức với các phòng chuyên môn và Trung tâm Phục vụ hành chính công; xã Châu Tiến xác định việc tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, tăng cường phân cấp, phân quyền và nâng cao tính chủ động của chính quyền cơ sở. Tại xã Hùng Chân, bộ máy cũng từng bước được kiện toàn, phân công nhiệm vụ, bảo đảm hoạt động quản lý nhà nước và phục vụ Nhân dân không bị gián đoạn. Những kết quả đó cần được ghi nhận nhưng với tư cách cơ quan dân cử, vấn đề đặt ra đối với hoạt động giám sát không chỉ là “đã tổ chức được bộ máy hay chưa”, mà sâu hơn là:
Bộ máy mới vận hành có thực sự thông suốt không? Nhiệm vụ được phân cấp đã đi kèm với điều kiện bảo đảm chưa? Những điểm nghẽn nào đang phát sinh? Người dân có thực sự thuận lợi hơn trong tiếp cận dịch vụ công hay chưa?
Đặc biệt, những vấn đề được xác định là trọng tâm không chỉ được xem xét dưới góc độ “đã làm được gì”, mà còn đặt ra các câu hỏi: Vì sao kết quả chưa đạt? Vướng ở quy định nào? Vướng ở nguồn lực hay tổ chức thực hiện? Vướng ở sự phối hợp giữa các cơ quan? Trách nhiệm thuộc cấp nào? Có giải pháp nào có thể xử lý ngay và vấn đề nào cần kiến nghị cấp có thẩm quyền? Chính cách đặt vấn đề như vậy giúp hoạt động giám sát đi sâu hơn vào bản chất của vấn đề, hạn chế tình trạng báo cáo nhiều nhưng kết quả giám sát ít.
Trên cơ sở báo cáo, Tổ tiếp tục nghiên cứu, khảo sát tại Trung tâm hành chính công, Trung tâm dịch vụ công…, trao đổi với người dân, đặt câu hỏi, trao đổi với cán bộ, công chức, đối chiếu với hồ sơ, số liệu và kiểm chứng những vấn đề cần thiết tại cơ sở. Cách tiếp cận này giúp hoạt động giám sát từng bước chuyển từ “nghe báo cáo” sang “nghiên cứu – đối chiếu – kiểm chứng – làm rõ”.
Giám sát hiệu quả cần có sự kết hợp giữa hồ sơ, thực địa và ý kiến từ cơ sở. Hồ sơ giúp đại biểu nắm được quá trình tổ chức thực hiện và số liệu. Khảo sát thực tế giúp kiểm chứng những gì được báo cáo. Trao đổi với cán bộ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ và người dân giúp nhận diện những vấn đề mà báo cáo hành chính có thể chưa phản ánh đầy đủ.
Đây là điểm rất quan trọng đối với hoạt động của Tổ đại biểu, bởi lợi thế của Tổ chính là gắn với địa bàn và gần cơ sở. Trong nhiều trường hợp, một vấn đề tưởng như thuộc về “quy trình hành chính” nhưng khi đi sâu mới thấy nguyên nhân nằm ở nhân lực; một vấn đề được xác định là “thiếu kinh phí” nhưng thực tế lại là vướng thủ tục; hoặc một nhiệm vụ được cho là “chưa thực hiện” nhưng nguyên nhân lại xuất phát từ sự chưa thống nhất về hướng dẫn giữa các cấp.
Vì vậy, đi thực tế không phải để “kiểm tra cho có”, mà để kiểm chứng và làm rõ bản chất vấn đề. Đó chính là khoảng không gian để hoạt động giám sát của Tổ đại biểu phát huy vai trò.
Từ báo cáo đến thực tiễn: phải nhìn thấy “điểm nghẽn”
Một trong những kinh nghiệm có thể rút ra từ hoạt động của Tổ đại biểu số 19 là không chỉ tổng hợp khó khăn, vướng mắc do cơ sở nêu ra, mà phải phân loại, đối chiếu để xác định bản chất của từng vấn đề.
Qua báo cáo của các xã, bên cạnh những kết quả tích cực, vẫn xuất hiện những vấn đề cần tiếp tục được quan tâm. Chẳng hạn, tại xã Châu Bình, một số thủ tục, nhiệm vụ liên quan đến đất đai, đầu tư công quy mô nhỏ và chế độ, chính sách đặc thù vẫn phải xin ý kiến hướng dẫn của cấp trên, làm kéo dài thời gian giải quyết. Trong lĩnh vực giải quyết thủ tục hành chính, mặc dù tỷ lệ hài lòng được báo cáo ở mức cao, vẫn còn hồ sơ quá hạn, tập trung ở một số lĩnh vực như hộ tịch, chứng thực. Đây là những thông tin mà nếu chỉ nhìn vào tỷ lệ hài lòng hoặc tỷ lệ hồ sơ giải quyết trước hạn sẽ khó nhận diện đầy đủ.
Từ góc độ giám sát, cần đặt câu hỏi tiếp theo: Vì sao còn hồ sơ quá hạn? Vướng ở quy trình, năng lực cán bộ, phần mềm, dữ liệu hay do phải xin ý kiến cấp trên? Những nội dung nào thuộc trách nhiệm của xã, nội dung nào cần cơ quan cấp tỉnh hướng dẫn hoặc tháo gỡ?
Cũng tương tự đối với quản lý tài sản công.
Báo cáo của xã Hùng Chân cho thấy phần lớn cán bộ, công chức, viên chức đã được bố trí thiết bị làm việc, nhưng vẫn còn một số trường hợp phải sử dụng máy cá nhân; một số thiết bị đã cũ, cần nâng cấp, sửa chữa; riêng máy tính còn thiếu so với định mức và nhiều thiết bị cần được sửa chữa, nâng cấp. Những con số này không chỉ phản ánh tình trạng tài sản công, mà còn đặt ra vấn đề rộng hơn về điều kiện bảo đảm để chính quyền cơ sở thực hiện nhiệm vụ trong môi trường số.
Như vậy, giám sát không nên dừng ở việc “tài sản đã được kiểm kê chưa”, mà cần đi thêm một bước: tài sản sau sắp xếp có được sử dụng hiệu quả không; nơi nào thừa, nơi nào thiếu; việc điều chuyển, xử lý tài sản có kịp thời không; cơ sở có đủ điều kiện để vận hành chính quyền số hay chưa?
Cách làm này có ý nghĩa thiết thực bởi cùng một kết quả chưa đạt nhưng nguyên nhân có thể hoàn toàn khác nhau. Nếu không xác định đúng nguyên nhân thì kiến nghị sau giám sát rất dễ chung chung, thiếu địa chỉ và khó tổ chức thực hiện. Từ đó, những khó khăn được phân loại theo từng nhóm: khó khăn do quy định, cơ chế chính sách; khó khăn về nguồn lực; khó khăn về tổ chức thực hiện; khó khăn trong phối hợp giữa các cơ quan; những vấn đề thuộc thẩm quyền giải quyết của địa phương và những vấn đề cần kiến nghị cấp tỉnh hoặc cơ quan Trung ương xem xét.
Vì vậy, giám sát không chỉ để biết “cái gì chưa làm được”, mà phải trả lời được “vì sao chưa làm được và cần làm gì để tháo gỡ”. Đó chính là cách chuyển từ giám sát hiện trạng sang giám sát hiệu quả.
Làm rõ trách nhiệm nhưng không làm thay cơ quan quản lý
Một yêu cầu quan trọng trong hoạt động giám sát là phải xác định được trách nhiệm, nhưng đồng thời bảo đảm đúng chức năng, thẩm quyền của HĐND.
Từ thực tiễn hoạt động, Tổ đại biểu số 19 chú trọng phân biệt giữa những khó khăn khách quan và hạn chế chủ quan; giữa vấn đề thuộc thẩm quyền của địa phương với vấn đề vượt thẩm quyền; giữa trách nhiệm của cơ quan chủ trì và trách nhiệm phối hợp của các cơ quan liên quan. Việc làm rõ trách nhiệm không nhằm tạo áp lực đơn thuần đối với đơn vị được giám sát mà nhằm xác định đúng chủ thể, đúng vấn đề và đúng cấp có thẩm quyền xử lý.
Đây cũng là cơ sở để kiến nghị sau giám sát có địa chỉ rõ ràng, tránh tình trạng kiến nghị chung chung như “đề nghị quan tâm”, “đề nghị tăng cường”, “đề nghị tháo gỡ” nhưng không xác định rõ cơ quan nào thực hiện, thời hạn nào cần hoàn thành và kết quả cần đạt là gì.
Kiến nghị phải hướng tới giải quyết vấn đề
Một trong những thước đo quan trọng của hoạt động giám sát là chất lượng kiến nghị sau giám sát. Vì vậy, Tổ đại biểu số 19 hướng việc tổng hợp kết quả giám sát theo nguyên tắc: phát hiện vấn đề phải gắn với nguyên nhân; xác định nguyên nhân phải gắn với trách nhiệm; xác định trách nhiệm phải gắn với giải pháp và kiến nghị. Theo đó, kiến nghị cần bảo đảm các yếu tố: rõ vấn đề – rõ nguyên nhân – rõ trách nhiệm – rõ cơ quan thực hiện – rõ giải pháp và có khả năng theo dõi kết quả thực hiện.
Đây là điểm rất quan trọng để khắc phục tình trạng “giám sát xong là kết thúc”. Một cuộc giám sát chỉ thực sự có ý nghĩa khi những kiến nghị sau giám sát được tiếp tục theo dõi, đôn đốc và đánh giá kết quả thực hiện.
Phát huy vai trò hoạt động của Tổ đại biểu, để mỗi Tổ đại biểu trở thành một “kênh phát hiện điểm nghẽn” từ cơ sở
Thực tiễn hoạt động của Tổ đại biểu số 19 cho thấy, để phát huy vai trò của Tổ đại biểu trong hoạt động giám sát, cần chuyển từ cách làm thiên về tham gia sang cách làm chủ động hơn là chuẩn bị – nghiên cứu – giám sát – kiến nghị – theo dõi. Trong đó, khâu chuẩn bị cần được coi là một mắt xích quan trọng của toàn bộ quy trình. Tổ đại biểu cần chủ động xây dựng kế hoạch, đề cương chi tiết; nghiên cứu trước báo cáo, số liệu; xác định những vấn đề trọng tâm; chuẩn bị câu hỏi; tổ chức khảo sát khi cần thiết và phân công thành viên theo dõi từng nhóm nội dung. Chuẩn bị kỹ không phải để có một cuộc giám sát nhiều tài liệu, mà để sau giám sát xác định được đúng điểm nghẽn, đúng nguyên nhân, đúng trách nhiệm và kiến nghị được giải pháp có khả năng thực hiện. Đây cũng chính là yêu cầu đặt ra đối với hoạt động giám sát của HĐND trong giai đoạn hiện nay. Khi yêu cầu quản trị địa phương ngày càng cao, các vấn đề phát sinh ở cơ sở ngày càng đa dạng, nếu phương pháp giám sát chỉ dừng ở việc nghe báo cáo và ghi nhận ý kiến thì khó đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Tổ đại biểu không chỉ tổ chức các hoạt động theo chương trình của HĐND, mà còn có thể trở thành một kênh phát hiện sớm những vấn đề phát sinh từ cơ sở. Mỗi Tổ đại biểu phụ trách một địa bàn khác nhau; điều kiện kinh tế - xã hội, đặc điểm dân cư và những vấn đề đặt ra cũng khác nhau. Vì vậy, chương trình hoạt động của mỗi Tổ cần có sự linh hoạt, lựa chọn những nội dung phù hợp với địa bàn. Có thể hình thành một phương pháp làm việc thống nhất nhưng linh hoạt: Một vấn đề – một hồ sơ – một cuộc khảo sát – một kiến nghị – một lần theo dõi. Với mỗi vấn đề được lựa chọn, Tổ đại biểu có thể xây dựng một “hồ sơ giám sát” gồm: căn cứ pháp lý, báo cáo của địa phương, số liệu chính, vấn đề cần làm rõ, kết quả khảo sát, ý kiến của cơ sở, nhận định của Tổ, kiến nghị và tiến độ thực hiện. Cách làm này không chỉ giúp nâng cao chất lượng giám sát mà còn tạo cơ sở dữ liệu phục vụ hoạt động của đại biểu trong cả nhiệm kỳ.
Khi làm việc tại cơ sở, cần kết hợp giữa nghe báo cáo với trao đổi, đối thoại và kiểm chứng thực tế. Đại biểu dành thời gian nghiên cứu kỹ tài liệu, đặt câu hỏi đúng trọng tâm, đi vào những vấn đề cụ thể của cơ sở và theo dõi đến cùng các kiến nghị thì hoạt động giám sát sẽ không còn là một khâu độc lập trong quy trình hoạt động của HĐND, mà trở thành một quá trình đồng hành cùng cơ sở để phát hiện và tháo gỡ điểm nghẽn.
Mỗi Tổ đại biểu cần chủ động hơn, sâu sát hơn và thực chất hơn; biến thông tin từ cơ sở thành dữ liệu phục vụ hoạt động giám sát; biến những khó khăn, vướng mắc thành những vấn đề cần giải quyết; biến kiến nghị sau giám sát thành những nhiệm vụ có địa chỉ và có thể theo dõi kết quả. Sau giám sát, cần tiếp tục theo dõi việc thực hiện kiến nghị, nhất là đối với những vấn đề đã được xác định rõ trách nhiệm và thời hạn giải quyết. Đây cũng là cách để phát huy lợi thế của Tổ đại biểu HĐND: gần địa bàn, gần cơ sở, gần Nhân dân và có điều kiện nắm bắt trực tiếp những vấn đề phát sinh trong thực tiễn.
Phát huy vai trò của Tổ đại biểu không chỉ là nâng cao chất lượng hoạt động của từng Tổ, mà còn góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HĐND. Khi mỗi Tổ đại biểu thực sự chủ động, sâu sát và trách nhiệm với địa bàn được phân công, hoạt động giám sát sẽ ngày càng gần thực tiễn, sát cơ sở, sát Nhân dân và hướng mạnh hơn vào giải quyết những vấn đề mà thực tiễn đang đặt ra. Khi mỗi Tổ đại biểu thực sự phát huy được vai trò của mình tại địa bàn, hoạt động giám sát của HĐND tỉnh sẽ ngày càng sát thực tiễn hơn, sâu hơn, thực chất hơn, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền và củng cố mối liên hệ giữa cơ quan dân cử với Nhân dân.



