Phan Bội Châu sinh ngày 26 tháng 12 năm 1867 tại làng Đan Nhiệm, xã Xuân Hòa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Cụ là một trong những nhà yêu nước lớn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Sớm xác định tư tưởng chiến lược làm cách mạng dân tộc dân chủ, lại đề ra chủ trương bạo động, Phan Bội Châu đồng thời cũng nhìn thấy những lực lượng có thể tập hợp vào công cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp. Đó là tư tưởng đoàn kết dân tộc trong đấu tranh cách mạng của chí sĩ.

tuong-cu-phan-boi-chau-dat-tai-truong-thpt-chuyen-phan-boi-chau-5825--n1.jpg

Tượng cụ Phan Bội Châu đặt tại trường THPT chuyên Phan Bội Châu. Ảnh tư liệu

Đất nước rơi vào tay giặc Pháp. Vua quan trở thành tay sai, bù nhìn. Nỗi thống khổ đè nặng lên vai người dân:

“Trăm thứ thuế, thuế gì cũng ngặt

Rút chặt dần như thắt chỉ xe

Miền kẻ chợ phía nhà quê

Của đi có lối của về thì không”

Vì thế, cụ chỉ ra trách nhiệm giải phóng đất nước thuộc về người dân. Phan Bội Châu đặt hy vọng vào “năm mươi triệu số người trong nước”, đều là “cháu con một họ”, “chú bác anh em”, đều có tài sản chung là đất nước của ông cha để lại.

Yêu nước là phải đoàn kết và đoàn kết mới thực hiện được yêu nước: “nước đã là nước chung thì phải chung lòng, chung sức mà chống đỡ”. Yêu nước là phải giữ cho nước nhà được độc lập mà “độc lập là do hợp quần mà có”, vì vậy phải đoàn kết. Và cụ tin rằng nhân dân ta “ai cũng một bụng phục thù ái quốc”. Một khi cả nước đã đồng tâm thì:

“Việc dẫu nặng chia mang cũng nổi

Xúm tay vào kéo lại non sông”.

bna-1-4407.jpg
Khuôn viên Di tích Quốc gia đặc biệt Khu Lưu niệm Phan Bội Châu tại thị trấn Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Ảnh: Thành Cường

Nhận thức của Phan Bội Châu về vai trò của nhân dân qua các thời kỳ đã có sự phát triển. Năm 1905, khi viết “Việt Nam vong quốc sử”, Phan Bội Châu chia những người trong nước ra làm năm bậc, tất cả đều là con một ông cha và một bà mẹ, của một bầu trời và cùng sống trên một miếng đất như nhau, tất cả đều là đồng bào trong một nước và đều có nhiệm vụ làm cho nước nhà sống lại. Đến tác phẩm “Hải ngoại huyết thư” (1906), cụ đã đề cập đến nhiều hạng người đồng tâm: phú hào, quan tước, thế gia, sĩ tịch, lính tập, giáo đồ, côn đồ nghịch tử, nhi nữ anh si, bồi bếp thông ký, cừu gia đệ tử, người đi du học. Ở mỗi hạng người cụ đều phân tích vị trí, vai trò của họ đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Tầng lớp nào, hạng người nào cũng bị chèn ép, cũng bị đày đoạ. Cho nên ai cũng có trách nhiệm và khả năng để đứng lên lật đổ thực dân cướp nước.

“Năm mươi triệu đồng lòng đua sức

Năm mươi nghìn giống khác được bao!

Cùng nhau bên ít bên nhiều

Lọ là gươm sắc súng kêu mới nhiều”.

Cụ Phan đã thấy được sự cần thiết và khả năng khách quan có thể đoàn kết được tất cả những người yêu nước không kể giai cấp, tôn giáo, đảng phái đứng lên cứu nước. Điểm đặc biệt là cụ đã nhìn thấy được khả năng cách mạng của phụ nữ, của lính tập, của giáo đồ Thiên Chúa, điều mà nhiều nhà yêu nước đương thời và trước đó không thấy được. Trước hết, đối với phụ nữ, Phan Bội Châu có cái nhìn rất trân trọng. Ngay từ khi còn là một chàng thanh niên say mê lý tưởng cứu nước, cậu nho San đã nhận thấy được sức mạnh của nữ giới:

“Chị em cất gánh sơn hà

Làm cho rõ mặt đàn bà nước Nam”.

Đến khi dấn thân vào con đường cứu nước, Phan Bội Châu càng nhận rõ vai trò của phụ nữ trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Cụ nhấn mạnh: “Phụ nữ là những người có trách nhiệm làm mẹ tốt, làm vợ hiền, biết việc văn thư, hay nghề buôn bán, khéo đường dạy dỗ con em, giúp đỡ quân lính. Mẹ tốt thì sinh được con ngoan, vợ hiền thì giúp được chồng giỏi. Hơn nữa về các sự nghiệp chính trị, người phụ nữ thực có quyền lợi không cùng. Có chú trọng việc giáo dục thì mới bỏ được riêng tư mà theo công lợi, mới làm cho nước nhà giàu mạnh tấn tới”. Trong quan niệm đối với vấn đề phụ nữ, cụ đã có một nhận định vô cùng táo bạo nhưng rất sáng suốt: “Trong nước nếu không có phụ nữ yêu nước thì nước ấy sẽ phải làm đầy tớ cho người ta thôi”. Vì thế, trên bước đường hoạt động cách mạng của cụ đã có rất nhiều nữ đồng chí có năng lực và rất trung thành với sự nghiệp cách mạng như cô Liên, cô Triệu, cô Chí…

bna-phan-mo-cu-phan-boi-chau-o-thanh-pho-hue-3341.jpg

Phần mộ cụ Phan đặt tại Khu lưu niệm danh nhân Phan Bội Châu nằm tại số 119 đường Phan Bội Châu, phường Trường An, thành phố Huế. Ảnh tư liệu

Đối với đồng bào công giáo, cụ Phan cũng nhận thấy họ đều có mối thù chung với giặc Pháp. Phong trào Đông Du phát triển có sự đóng góp không nhỏ của đồng bào công giáo. Hàng chục thanh niên giáo dân đã theo Phan Bội Châu sang Nhật du học để về giúp đất nước như Lưu Văn Quế, Lý Trọng Mậu, Lý Hồng Chung, Lê Khanh, Nguyễn Văn Phú,… Trong đó tiêu biểu như Mai Lão Bạng, tức Mai Châu, đã được nghĩa hội cử sang Nhật với tư cách đại biểu của đồng bào Thiên Chúa giáo tham gia Hội Duy Tân và trở thành đồng chí thân thiết của Phan Bội Châu. Do nhận thức được sâu sắc lòng yêu nước của giáo dân, do biết phân biệt bạn thù một cách đúng đắn, Phan Bội Châu đã kêu gọi lương giáo đoàn kết và tin tưởng ở khối đoàn kết đó: “Đám mây đen tối chia rẽ giáo lương bây giờ đã được quét sạch, đó cũng là việc đáng thích”.

Đối với binh lính, cụ thấy được họ cũng vì khốn khổ mà theo Tây để được nhận mấy đồng lương rẻ mạt:

“Vì thần tiền phải bước chân ra

Có đâu ta lại giết ta

Cũng là một gốc mọc ra nỡ nào”.

Cho nên: “Mãn hạn chú về, Thuế sưu chú chết, Họ đương chú la lết, Thân thích chú xác xơ”. Số phận của binh lính khi quay về xóm làng đều bi đát như thế nên Phan Bội Châu tin rằng sẽ vận động được họ: “Binh lính Việt Nam sẽ quay súng bắn vào quân Pháp” là một điều tất yếu xảy ra và là một trong những nguyên nhân tất thắng của dân tộc ta. Và điều tin tưởng đó đã thể hiện ở các cuộc đấu tranh của binh lính người Việt trong quân đội Pháp như vụ Hà thành đầu độc, khởi nghĩa Thái Nguyên.

Ngoài những hạng người trên, Phan Bội Châu còn nhìn thấy sự đoàn kết dân tộc ở vùng miền núi, thượng du. Cụ đặc biệt lưu ý: “Những miền thượng du kia, địa thế hiểm yếu, vật sản phong phú, bản chất con người ở đây lại dũng cảm chiến đấu. Nếu khéo dùng thì họ là của ta, đấy sẽ là mầm mống của sự nghiệp bá vương; nếu bỏ qua đi thì họ sẽ theo người khác và sẽ là cái mồ chôn vùi nước ta”. Nhận xét như vậy là sáng suốt, và tiến bộ so với quan niệm đương thời. Và trong sự nghiệp cứu nước của cụ đã có rất nhiều thổ hào, nhiều người con dân tộc thiểu số đi theo cụ làm cách mạng. Chính sau này, phong trào cách mạng cũng được “nuôi dưỡng” từ vùng rừng núi, trong cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, “thủ đô kháng chiến” của ta cũng đóng ở vùng rừng núi và nhờ sự che chở của đồng bào thiểu số. Phan Bội Châu quả thật là người có tầm nhìn chiến lược.

Lòng yêu nước nồng nàn của Phan Bội Châu bao giờ cũng rộng mở đón gió muôn phương, cụ tin rằng bất kỳ ai, bất kỳ lực lượng nào nếu biết tổ chức họ lại trong một tổ chức quy củ đều phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc để làm cách mạng. Đoàn kết dân tộc là một tư tưởng nổi bật trong hệ thống chính trị của Phan Bội Châu. Đó là những điều rất đáng trân quý ở một con người, một chí sĩ yêu nước, suốt đời thổn thức với vận mệnh non sông.

Tuy trong tư tưởng đoàn kết dân tộc của cụ còn một số hạn chế do nhãn quan của một nhà nho chưa thoát ra khỏi phạm trù tầng lớp của mình - cũng là điều tất yếu trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, tư tưởng đoàn kết dân tộc của Phan Bội Châu vẫn là một bước phát triển cao so với tư tưởng truyền thống. Phan Bội Châu đã làm cho tư tưởng đoàn kết dân tộc có tính chất rộng rãi và dân chủ. Đó là một cống hiến lớn của cụ đối với dân tộc. Phan Bội Châu là nhà chính trị đầu tiên quan tâm đến việc xem xét và đánh giá từng hạng người trong xã hội để đi đến những kết luận về thái độ chính trị của họ. Những hạn chế của Phan Bội Châu, sau này được Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam khắc phục, hoàn thiện, bổ sung cơ sở lý luận khoa học và thu được kết quả thắng lợi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Lệ Thu