Tuổi vị thành niên không bình lặng
Lê Đình Cúc quê ở làng Long Xuyên, xã Nam Thịnh, huyện Nam Đàn trước đây (nay là xã Thiên Nhẫn, tỉnh Nghệ An). Khi Cúc cất tiếng khóc chào đời thì cha anh đang chiến đấu ở mặt trận Bình Trị Thiên. Cuối năm 1951, ông được điều về quê công tác, từ đó Lê Đình Cúc mới biết mặt cha và được cha yêu thương, chăm sóc.
Nhưng đất nước vẫn đang trong cao trào của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Năm 1953, cha anh tiếp tục được huy động vào lực lượng thanh niên xung phong, cùng hàng vạn dân công hỏa tuyến vận chuyển lương thực, đạn dược phục vụ Chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, góp phần làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử. Hòa bình lập lại ở miền Bắc chưa lâu, theo chủ trương của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Khu tự trị Thái - Mèo, cha anh lại được tổ chức phân công lên Tây Bắc tham gia tiễu phỉ, xây dựng chính quyền cơ sở, giữ gìn an ninh và cùng đồng bào các dân tộc ổn định cuộc sống. Sau nhiều năm công tác tại vùng cao, cuối những năm 1950, ông được cử về Hà Nội học Trung cấp Thương nghiệp. Hoàn thành khóa học, ông chuyển về công tác tại Vinh, rồi giữ cương vị Giám đốc Thương nghiệp huyện Hưng Nguyên.
Được công tác gần quê nhưng ông vẫn chỉ có thể về nhà vào ngày Chủ nhật hoặc những dịp lễ, tết. Mọi việc trong gia đình, từ cấy cày, trồng trỉa đến nuôi dạy con cái đều do một tay mẹ Lê Đình Cúc gánh vác. Cũng bởi cuộc sống thường xuyên vắng bóng người cha nên việc học của Cúc có phần muộn hơn các bạn cùng trang lứa. Tức chí bấm chí, Lê Đình Cúc đã nỗ lực vươn lên, vừa học tập tốt, vừa đỡ đần mẹ chăm lo gia đình. Khi học lớp 9, lớp 10, anh đã cùng dân quân làng, xã tham gia trực chiến bắn máy bay Mỹ bên bờ sông Lam mỗi khi chúng gầm rú, bắn phá quê hương.
Và niềm vui xen lẫn vinh dự, kết thúc khóa học cấp 3 (năm 1968), anh là một trong số ít học trò trường phổ thông cấp 3 Nam Đàn 2, tỉnh Nghệ An được kết nạp Đảng và được tuyển chọn đi du học tại Romania. Cầm giấy báo ra Hà Nội làm thủ tục lên tàu liên vận sang nước bạn, Lê Đình Cúc vẫn nặng trĩu nỗi niềm nhớ mẹ, thương các em sẽ vất vả hơn khi cha anh, vì nhiệm vụ, lại chuyển lên công tác ở huyện miền núi Tân Kỳ, cách nhà hàng trăm kilômét.
Khai phá vùng đất mới – Văn học Mỹ
Trong bối cảnh những năm 1954-1975, miền Nam chìm trong khói lửa chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai; miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội nhưng do nhiều hạn chế nên các tác phẩm văn học Mỹ chỉ được dịch chọn lọc qua tiếng Pháp, tiếng Nga và giới thiệu sơ lược trong một số trường đại học, cao đẳng. Hơn 20 năm (1954-1975) dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa, không ít đầu sách văn học Mỹ được dịch và lưu hành ở miền Nam, nhưng chủ yếu khai thác các khuynh hướng hiện sinh, đồi trụy hoặc phản động nhằm tha hóa con người, nhất là ru ngủ lòng yêu nước, chống xâm lược của tầng lớp thanh niên, sinh viên đô thị. Viện Văn học có Phòng Văn học nước ngoài nhưng chủ yếu tập trung nghiên cứu văn học Pháp, Trung Quốc, Nga; văn học Mỹ mới chỉ được giới thiệu sơ lược qua một số bài viết của Cao Huy Đỉnh, Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Đức Nam.
Chỉ sau đại thắng mùa Xuân năm 1975, đặc biệt từ khi công cuộc đổi mới được mở ra, hoạt động nghiên cứu văn học Mỹ mới thực sự khởi sắc. Lê Đình Cúc từ nước ngoài trở về (năm 1973), anh được "đầu quân" vào Tổ Văn học nước ngoài của Viện Văn học. Với vốn tiếng Anh được đào tạo bài bản trong 5 năm du học, PGS.TS Lê Đình Cúc có điều kiện tiếp cận trực tiếp nền văn học Mỹ ở nhiều phương diện khác nhau. Nếu học giả Hữu Ngọc thiên về giới thiệu và phổ biến văn hóa Mỹ thì PGS.TS Lê Đình Cúc là một trong những người sớm nghiên cứu văn học Hoa Kỳ theo hướng chuyên sâu và có hệ thống trong các thập niên cuối thế kỷ XX cho đến nay.
Tháng 7/1995, Việt Nam và Hoa Kỳ thiết lập quan hệ ngoại giao; năm 2000 ký Hiệp định Thương mại song phương (BTA); năm 2007, Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), mở ra điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế, trong đó có hợp tác về văn hóa và giáo dục. Trong không khí đổi mới, "khép lại quá khứ, hướng tới tương lai", nhiều nhà văn, nhà thơ Mỹ đến thăm và làm việc tại Việt Nam; đồng thời ngày càng có nhiều tác phẩm văn học Hoa Kỳ được dịch, giới thiệu ở nước ta. Ở chiều ngược lại, các tác giả và tác phẩm văn học Việt Nam từ cổ chí kim cũng từng bước được dịch và xuất bản tại Hoa Kỳ.
Trong bối cảnh ấy, PGS.TS Lê Đình Cúc đã dồn tâm sức nghiên cứu một cách có hệ thống nền văn học Mỹ, từ văn học dân gian, lịch sử văn học đến các xu hướng, trào lưu, tác gia và tác phẩm, trải dài từ cuối thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX; từ các nhân vật triệu phú trong Thời đại hoàng kim đến sự xuất hiện của các nhà văn thuộc "thế hệ bị mất mát". Hơn 45 năm nghiên cứu văn học, văn hóa Mỹ, ngoài các chuyên luận như Hemingway và những tác phẩm tiêu biểu của ông, Nghệ thuật tiểu thuyết của Hemingway, Mấy vấn đề văn học so sánh và so sánh văn học, 35 năm văn hóa Mỹ ở Việt Nam..., đáng chú ý hơn cả là những công trình quy mô như Văn học Mỹ: Mấy vấn đề và tác giả, Lịch sử văn học Mỹ, Tác gia văn học Mỹ (thế kỷ XVIII-XX), Từ điển Bách khoa (4 tập), Văn học hiện thực và văn học suy đồi Anh thế kỷ XIX, cùng nhiều tác phẩm dịch có giá trị.
Trong cuốn Lịch sử văn học Mỹ (dày hơn 530 trang), PGS.TS Lê Đình Cúc cho rằng văn học Hoa Kỳ là một nền văn học trẻ, hình thành sau khi nước Mỹ giành độc lập năm 1776; chỉ khi thoát khỏi ảnh hưởng của Anh, nước Mỹ mới xây dựng được nền văn hóa, trong đó có văn học mang bản sắc riêng. Tác giả cũng luận giải nền văn học Hoa Kỳ luôn gắn bó và phản ánh hiện thực xã hội, lịch sử nước Mỹ trong quá trình mở rộng lãnh thổ, công nghiệp hóa, đô thị hóa cùng những mâu thuẫn nảy sinh qua các thời kỳ. Ông khẳng định, dù mới có lịch sử khoảng hai thế kỷ, văn học Mỹ luôn sôi động, mạnh mẽ, không ngừng cách tân và đổi mới. Đó cũng là một trong những lý do đưa nước Mỹ trở thành quốc gia có nhiều giải Nobel Văn học với những tên tuổi như Eugene O'Neill, William Faulkner, Ernest Hemingway, Saul Bellow... Đồng thời, PGS.TS Lê Đình Cúc cũng chỉ ra các trào lưu, khuynh hướng chủ yếu của văn học Mỹ từ chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa tự nhiên đến bức tranh văn học Mỹ hiện đại. Để giúp độc giả hiểu rõ hơn bản chất, đặc trưng và thành tựu của nền văn học này, ông phân tích nội dung tư tưởng và phong cách nghệ thuật của nhiều tác gia tiêu biểu.
Với sự thấu đáo và cẩn trọng, PGS.TS Lê Đình Cúc đánh giá Benjamin Franklin (1706-1790) là một trí tuệ uyên bác. Ông không chỉ là nhà vật lý học danh tiếng, nhà ngoại giao tài ba mà còn là nhà văn đặt nền móng cho thời kỳ văn học khai sáng giàu tính nhân văn ở Mỹ.
Đối với Mark Twain (1835-1910), qua những tác phẩm tiêu biểu như Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer, Ông hoàng và chú bé nghèo khổ, Đời sống trên dòng Mississippi, PGS.TS Lê Đình Cúc cho rằng nhà văn đã phản ánh chân thực cuộc sống người lao động bằng bút pháp trào lộng nhưng giàu sức phê phán bất công xã hội, thói đạo đức giả và nạn phân biệt chủng tộc trong lòng xã hội Mỹ nửa cuối thế kỳ XIX. Ông được xem là "cột mốc sừng sững đánh dấu một thời kỳ mới của nền văn học Mỹ".
Edgar Allan Poe (1809-1849) có nhiều thành tựu ở thể loại truyện ngắn, với những tác phẩm chứa đựng yếu tố kỳ ảo, hoang đường. Trong cuộc đời ngắn ngủi (40 năm), ông lần lượt chứng kiến những cái chết của cha, mẹ và người vợ thân yêu, vì thế nỗi buồn, tình yêu và sự mất mát đã trở thành những đề tài trung tâm trong nhiều tác phẩm của Poe như Bí mật của Marie Roget, Vụ giết người ở phố Morgue.
William Faulkner (1897-1962) là một trong những đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa hiện đại thế kỷ XX. Qua các tác phẩm như Âm thanh và cuồng nộ, Khi tôi hấp hối, Nắng tháng tám..., ông đi sâu khai thác dòng ý thức và thế giới nội tâm phức tạp của con người. Những đóng góp độc đáo về nghệ thuật tiểu thuyết đã giúp Faulkner được trao Giải Nobel Văn học (1949) và Giải Pulitzer.
Riêng Ernest Hemingway, từ cuối những năm 1950, tác phẩm của ông đã được Bùi Giáng ở miền Nam, sau đó là Mặc Đỗ, Dương Tường ở miền Bắc dịch và giới thiệu đến độc giả Việt Nam. Là người từng trải qua chiến tranh và nhiều biến động của cuộc đời, Hemingway tập trung phản ánh những mất mát, đau thương do chiến tranh gây ra, đồng thời khẳng định bản lĩnh con người trước nghịch cảnh. Ông cũng phê phán gay gắt những tệ nạn và sự tôn thờ đồng tiền làm tha hóa các giá trị nhân văn trong xã hội tư bản. Những tiểu thuyết như Chuông nguyện hồn ai, Giã từ vũ khí và đặc biệt Ông già và biển cả đã thể hiện rõ phong cách nghệ thuật đặc sắc của Hemingway: lối văn ngắn gọn, tiết chế ngôn từ nhưng giàu sức gợi và chiều sâu tư tưởng, được các nhà nghiên cứu khái quát bằng "nguyên lý tảng băng trôi".
***
Quê tôi cách nơi PGS.TS Lê Đình Cúc sinh ra và lớn lên chừng 2 km; trước đây thuộc hai xã khác nhau, nay cùng thuộc xã Thiên Nhẫn. Làng Long Xuyên - quê hương của ông - không phải vùng đất nổi tiếng về truyền thống khoa bảng hay nhiều danh nhân, nhưng bằng sự nỗ lực bền bỉ trên con đường học thuật trong thời kỳ đổi mới, nơi đây đã sinh ra một chuyên gia hàng đầu cả nước về văn học phương Tây, đặc biệt là văn học Mỹ. PGS.TS Lê Đình Cúc từng giữ cương vị Tổng Biên tập Tạp chí Khoa học xã hội và Vietnam Social Sciences Review trong 13 năm.
PGS.TS Lê Đình Cúc, như tôi biết, bản tính của ông vốn ghét sự kênh kiệu, trong bất cứ tranh luận nào đều có chính kiến riêng, trọng tài năng thực sự và rất thủy chung, nghĩa tình với bè bạn. Giờ đây, dẫu đã ở ngưỡng tuổi bát tuần, ông vẫn chưa ngừng nghỉ trên con đường nghiên cứu, tiếp tục cho ra đời những công trình như Danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh và Nguyễn Du, Hồ Chí Minh - một cốt cách văn hóa Việt Nam, Người cùng quê Thiên Nhẫn... Trong lần gặp gần đây, PGS.TS Lê Đình Cúc hé lộ cho tôi biết ông đang ấp ủ trong tương lai gần sẽ cho ra đời một cuốn sách viết về những vấn đề văn hóa của quê hương, đất nước.



