Nắng quái và gió Lào

Tôi đến Nam Đàn vào một buổi chiều muộn, khi cái nắng quái đặc trưng của xứ Nghệ vẫn còn vương vất trên những ngọn tre. Nắng ở xứ này lạ lắm. Nó không chỉ là ánh sáng rót từ trên cao xuống, mà còn là hơi nóng hầm hập hắt từ dưới lòng đất lên, rang khô từng ngọn cỏ. Gió Lào thổi ràn rạt, nóng hổi như hơi thở của một lò rèn khổng lồ nào đó bị bỏ quên giữa trời và đất. Người phương xa đến đây thường sợ cái nắng, cái gió ấy. Nhưng đứng bên bờ sông Lam, nhìn dòng nước xanh biếc - cái màu xanh lục bảo trầm mặc muôn đời - tôi nhận ra một điều giản dị: Chính cái khắc nghiệt của thiên nhiên đã hun đúc nên cái can trường của con người. Đất có cằn cỗi, rễ cây mới cắm sâu. Trời có bão giông, lòng người mới vững chãi.

Dòng sông Lam vẫn chảy, điềm nhiên và kiên gan. Sông chảy qua ngàn năm, mang theo phù sa và cả những tiếng vọng từ quá khứ, đắp bồi lên đôi bờ không chỉ là màu xanh của ngô lúa, mà là tầng tầng lớp lớp văn hóa của một vùng đất "địa linh nhân kiệt". Đứng ở đây, dưới chân núi Đụn (Hùng Sơn), nghe tiếng gió luồn qua những tán cây cổ thụ trong khuôn viên đền thờ Vua Mai, tôi thấy thời gian ngưng tụ. Nó đọng lại trong từng viên ngói mũi hài, trong từng nét chạm trổ trên long ngai, và trong cả làn khói hương bảng lảng đang quyện vào bóng núi.

Đền thờ Vua Mai Hắc Đế. Ảnh: Huy Thư

Đền thờ Mai Hắc Đế nhận Bằng xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt năm 2023 nhân dịp kỷ niệm 1310 năm khởi nghĩa Hoan Châu. Con số thoạt nghe khô khan như một phép tính trừ của thời gian, nhưng nếu nhắm mắt lại và để tâm mình lắng xuống, ta sẽ thấy nó nặng trĩu. Đó là sức nặng của hơn mười ba thế kỷ, đủ để biến nương dâu thành bãi bể, biến cung điện nguy nga thành phế tích rêu phong. Vậy mà, kỳ lạ thay, có những thứ thời gian bất lực. Nó lắng lại, kết tủa thành trầm tích, thành linh khí. Cuộc khởi nghĩa Hoan Châu năm 713 là một lớp trầm tích như thế - cứng hơn bia đá và bền hơn kim cương.

Gánh vải và ngai vàng

Lịch sử đôi khi bắt đầu từ những điều rất đỗi đời thường, thậm chí là cay đắng. Với Mai Thúc Loan, lịch sử bắt đầu từ một gánh vải. Dù câu chuyện cống vải chỉ là một truyền thuyết “đẹp” nhưng đã đi vào lòng người xứ Nghệ, vào câu hát bài thơ. Vậy cớ gì chúng ta không tin!

Hãy nhắm mắt lại và để trí tưởng tượng đưa chúng ta trôi ngược về thế kỷ thứ 8. Khi ấy, bóng tối của nhà Đường đang phủ lên nước ta một màu u ám. Một người đàn ông lực lưỡng, da đen trũi màu đồng hun, đôi vai trần chai sạn vì đòn gánh. Trên vai ông là những chùm vải thiều tươi, ngọt ngào và mọng nước - thứ đặc sản mà thiên nhiên ban tặng cho phương Nam. Nhưng trớ trêu thay, vị ngọt ấy không dành cho ông, cũng không dành cho vợ con ông, đồng bào ông. Đó là vị ngọt dâng cho kẻ thống trị phương Bắc. Đường từ Hoan Châu đến Trường An xa vạn dặm. Núi cao, vực sâu, hổ báo rình rập. Mồ hôi nhỏ xuống đường, và cả máu nữa. Quả vải ngon mà sao đắng chát vị nhục nhằn của thân phận nô lệ.

Có lẽ, chính trong những bước chân nặng trĩu trên con đường cống nạp tủi nhục ấy, Mai Thúc Loan đã nghe thấy tiếng gọi của đất mẹ. Tiếng gọi từ những thớ đất nứt nẻ, từ tiếng than ai oán của xóm làng. Cái gánh vải ấy, nó nặng quá. Nặng vì nỗi nhục mất nước. Sự cam chịu của con người giống như mặt nước, bình lặng đấy nhưng ẩn chứa sức mạnh khôn lường. Khi bị dồn nén đến tận cùng, nước sẽ hóa thành sóng thần.

Và ông đã hất tung gánh vải xuống.

Cái giây phút Mai Thúc Loan hất tung gánh vải chính là giây phút một con người rũ bùn đứng dậy. Đó là một cái "hất tay" của lịch sử. Ông hất cái ách nô lệ đã đè nặng lên vai dân tộc suốt mấy trăm năm. Hành động ấy là một sự "giác ngộ". Giác ngộ rằng: phẩm giá con người không cho phép ta cúi đầu mãi. Từ một phu phen tạp dịch, ông trở thành thủ lĩnh, rồi thành Đế.

Ông là "Hắc Đế" - Vua Đen. Tôi yêu cái tên ấy biết bao. Màu đen của làn da rám nắng gió Lào, màu của bùn đất Hoan Châu. Màu đen ấy là màu của sự bí ẩn, của sức mạnh tiềm tàng trong lòng đất, màu của sự vững chãi như núi đá. Ông lên ngôi không phải trong lụa là gấm vóc, mà bước lên từ rơm rạ, từ nỗi đau nỗi nhục của dân cày. Ông xưng Đế, không phải để hưởng lạc, mà để gánh vác một gánh nặng khác lớn hơn gấp ngàn lần gánh vải: gánh sơn hà.

Khát vọng ngang tầm Thiên tử

Đứng trước bức hoành phi trong đền, tôi suy ngẫm về chữ "Đế".

Năm 713. Nhà Đường đang ở độ cực thịnh. Đường Huyền Tông được xưng tụng là minh quân, tạo ra cái gọi là "Khai Nguyên chi trị". Cái bóng của Đại Đường phủ dài khắp Á Đông. Vậy mà ở góc biển chân trời này, một người dân thường nhỏ bé, một gã "Mai đen" dám xưng Đế. Trong trật tự phong kiến Nho giáo, chỉ có Thiên tử Trung Hoa mới được xưng Đế, các nước chư hầu, lân bang chỉ được xưng Vương. Xưng Đế là khẳng định vị thế ngang hàng. Một bên là Hoàng đế phương Bắc, tôi là Hoàng đế phương Nam. Nước tôi có bờ cõi, có chủ quyền.

Đó là cái khí phách của người xứ Nghệ.

Cuộc khởi nghĩa Hoan Châu bùng lên như một ngọn núi lửa. Từ Vệ Sơn, ngọn lửa ấy lan ra khắp vùng, thu phục hào kiệt ba mươi hai châu, liên kết cả với Champa, Chân Lạp. Một tầm nhìn khoáng đạt, một tư duy ngoại giao không hề đơn giản của một người xuất thân nông dân. Mai Hắc Đế đã cho thấy rằng, lòng yêu nước không phân biệt sang hèn, và tài năng lãnh đạo có thể nảy mầm từ chính những luống cày. Dù triều đại của Ông chỉ tồn tại trong 10 năm (713-722). 10 năm ngắn ngủi so với dòng chảy lịch sử, nhưng là một dấu son chói lọi, chứng minh một chân lý: Sức mạnh của kẻ đô hộ dù lớn đến đâu cũng không thể dập tắt được khát vọng tự do - tự trọng của một dân tộc.

Nhập chú thích ảnh
n được gắn 7 bức hoành phi với nội dung: "Quê tổ linh thiêng", "Lừng lẫy uy linh", "Đức trạch trường tồn", "Công tích vĩ đại", "Non sông muôn thuở", "Võ công đại định", "Chí Trung Đại nghĩa" và bảy bức câu đối được sơn son thiếp vàng.

Ngôi đền của lòng dân

Di tích quốc gia đặc biệt. "Đặc biệt" - danh hiệu ấy quý lắm. Đó là sự khẳng định của quốc gia, là nén tâm hương dâng lên người xưa sau hơn một thiên niên kỷ.

Nhưng tôi tin rằng, với người dân Nam Đàn, ngôi đền này đã là "đặc biệt" từ hơn một ngàn năm trước rồi.

Nó đặc biệt không phải vì kiến trúc uy nghi, chạm trổ rồng phượng tinh xảo. Nó đặc biệt vì giữ "hồn vía" của một vùng đất. Người dân ở đây thờ Mai Hắc Đế như thờ cha mẹ mình. Họ gọi là "Vua", nhưng cũng gọi là "Ông", là "Cha" với tất cả sự gần gũi, kính trọng. Trong tâm thức dân gian, Mai Hắc Đế hóa thân vào non nước. Thân xác trở về với đất, tan vào đất, để rồi mạch đất ấy lại nuôi dưỡng những thế hệ sau.

Đoàn rước kiệu trong Lễ hội Đền Vua Mai. Ảnh: Internet

1310 năm trôi qua, khói hương chưa bao giờ tắt. Có lẽ, vì Mai Hắc Đế là biểu tượng của niềm hy vọng. Trong đêm trường Bắc thuộc dài đằng đẵng hơn ngàn năm, cuộc khởi nghĩa như một tia chớp rạch ngang bầu trời tối tăm. Dù thất bại về mặt quân sự, nhưng về mặt tinh thần, Mai Hắc Đế đã thắng. Sự hy sinh của Ông gieo vào lòng người Việt một niềm tin sắt đá: Chúng ta có thể bị đánh bại trong một trận chiến, nhưng không thể bị khuất phục trong ý chí. Cái chết của một anh hùng, tự thân nó đã là một sự gieo mầm. Có phải ngẫu nhiên không khi mảnh đất Nam Đàn này về sau lại sinh ra những Phan Bội Châu, những Hồ Chí Minh? Tôi cho là không. Có một sợi dây vô hình, một mạch ngầm văn hóa chảy xuyên suốt từ thuở Mai Thúc Loan gánh vải đến thuở Anh Ba Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước.

Soi mình vào dòng sông cũ

Chiều muộn. Tôi ngồi bên bờ sông Lam, nhìn những vệt nắng cuối cùng vương trên mặt nước lấp loáng.

Người xưa hay nói: "Ôn cố tri tân". Chúng ta đến thăm đền Vua Mai để cúi đầu trước bức tượng uy nghi. Đó là cuộc hành hương về nguồn cội sức mạnh nội sinh.

Giá trị của di tích nằm ở hai chữ "Tự chủ". Tự chủ thời Mai Hắc Đế là đánh đuổi ngoại xâm, giành lại bờ cõi. Tự chủ thời nay là gì? Phải chăng là giữ vững bản sắc văn hóa giữa dòng thác hội nhập? Phải chăng là xây dựng một đất nước hùng cường để không còn ai dám coi thường? Phải chăng là mỗi người dân đều có ý thức tự trọng, biết đau trước cái xấu, biết phẫn nộ trước cái ác và biết vun đắp cho cái thiện?

Lịch sử phong kiến Việt Nam có nhiều trang vàng, nhưng cũng lắm trang buồn. Sự nghiệp của Mai Hắc Đế là một bản hùng ca bi tráng. Bi mà không lụy, tráng mà không kiêu. Vua Mai dạy chúng ta bài học: Độc lập không phải là món quà từ trên trời rơi xuống, mà phải đánh đổi bằng máu.

Rời đền Mai Hắc Đế, tôi mang theo hình ảnh ngọn núi Đụn sừng sững in bóng lên nền trời chiều. Núi vẫn đứng đó, sông vẫn chảy đó. Những triều đại đã hưng rồi phế. Những cung điện đã xây rồi đổ. Chỉ còn lại lòng người và non nước.

Theo Quyết định số 1649/QĐ-TTg ngày 29/12/2022 của Thủ tướng Chính phủ, đền thờ Vua Mai Hắc Đế ở thị trấn Nam Đàn đã được công nhận là Di tích Lịch sử Quốc gia đặc biệt. Ảnh: Huy Thư

Đền thờ Mai Hắc Đế đứng đó, như một dấu chấm than đầy kiêu hãnh đặt vào dòng chảy lịch sử. Một dấu chấm than nhắc nhở về cái giá của độc lập. Một dấu chấm than khẳng định bản lĩnh của con người xứ Nghệ: "Can trường, huy hoàng, và sâu thẳm".

Tôi nhớ đến câu nói: "Tử nhi bất vong giả thọ" - Chết mà không mất, ấy là thọ. Mai Hắc Đế đã "thọ" cùng non sông này, đã sống trong 1310 năm qua và sẽ còn sống mãi, chừng nào dòng Lam còn chảy và núi Hồng còn xanh. Cúi đầu trước lịch sử, dâng nén tâm hương lên bậc tiền nhân, để con cháu soi mình vào tấm gương mà sửa sang lại tà áo, chỉnh đốn lại tâm hồn, để bước tiếp con đường mà cha ông đã khai mở.

Đêm xuống trên Hoan Châu. Gió vẫn thổi từ phía núi, mát rượi và phóng khoáng. Và tôi nghe trong gió, có tiếng ngàn xưa vọng về... Rất khẽ, rất sâu. Tiếng của lời thề non nước.