Sáng 20/10, tại Kỳ họp thứ 2, Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An và Đồng Tháp tiến hành thảo luận tại tổ về Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) và dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi); Dự án Nghị quyết của Quốc hội về thực hiện thí điểm cơ chế thu hồi và xử lý tài sản liên quan đến tội phạm không qua kết tội; Dự án Luật Thỏa thuận quốc tế (sửa đổi).
Dự phiên thảo luận có Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Đoàn Minh Huấn. Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An Nguyễn Khắc Thận và Phó Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Tháp Châu Thị Mỹ Phương điều hành phiên thảo luận.
Gỡ vướng pháp lý trong xử lý án đồng phạm
Góp ý dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), đại biểu Quốc hội chuyên trách Trần Nhật Minh đánh giá cao việc cơ quan soạn thảo tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội và cơ quan thẩm tra, cơ bản hoàn thiện quy định về căn cứ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tuy nhiên, dự thảo vẫn còn khoảng trống trong xử lý vụ án đồng phạm có nhiều bị can, bị cáo nhưng chỉ một người đủ điều kiện tạm hoãn.
Theo đại biểu, hành vi phạm tội trong các vụ án đồng phạm thường có mối liên hệ chặt chẽ. Vì vậy, cần làm rõ cơ quan điều tra có được tách vụ án trong trường hợp này hay không, đồng thời quy định cách xử lý đối với những người không đủ điều kiện tạm hoãn.
Đại biểu Trần Nhật Minh đề nghị bảo đảm thống nhất với Điều 187 về nhập, tách vụ án hình sự, theo hướng chỉ tách khi cần thiết, không thể sớm hoàn thành điều tra đối với tất cả tội phạm và việc tách không ảnh hưởng đến xác định sự thật khách quan, toàn diện.
Ở giai đoạn xét xử, cần làm rõ tòa án tiếp tục xét xử các bị cáo còn lại hay tạm đình chỉ toàn bộ vụ án khi chỉ một bị cáo được tạm hoãn. Nếu đình chỉ toàn bộ, thời gian giải quyết có thể kéo dài, nhất là khi thời hạn tạm hoãn lên đến 2 năm.
Đại biểu Trần Nhật Minh đề nghị bổ sung quy định cụ thể cho các tình huống này, tạo cơ sở áp dụng thống nhất, hạn chế vướng mắc và bảo đảm giải quyết vụ án đúng pháp luật.
Bảo đảm áp dụng pháp luật thống nhất, có lợi cho người bị buộc tội
Đồng quan điểm về sự cần thiết tiếp tục hoàn thiện dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), đại biểu Vũ Thị Lan Anh -Ủy viên chuyên trách Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội, đề nghị tiếp tục hoàn thiện dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), bảo đảm tính thống nhất, chặt chẽ và khả thi.
Về Khoản 4, Điều 5 quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, đại biểu đề nghị xây dựng tiêu chí xác định thời hạn trả lời bằng văn bản theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, bảo đảm phù hợp tính chất, mức độ phức tạp của vụ việc. Với trường hợp khẩn cấp, cần nêu rõ căn cứ, lý do và trách nhiệm của người yêu cầu.
Đối với Khoản 2, Điều 21 về áp dụng pháp luật có lợi cho người bị buộc tội, đại biểu cho rằng, cần làm rõ điều kiện, căn cứ và trách nhiệm giải trình khi áp dụng, nhất là trong thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ, bảo đảm quyền con người và nguyên tắc suy đoán vô tội.
Về thẩm quyền điều tra của Trưởng Công an cấp xã, Phó Trưởng Công an cấp xã tại Khoản 2, Điều 41, đại biểu Vũ Thị Lan Anh cơ bản đồng tình với chủ trương phân cấp nhưng đề nghị cân nhắc việc giao thẩm quyền đối với vụ án về tội rất nghiêm trọng.
Nếu triển khai, cần quy định rõ tiêu chí, phạm vi hoạt động điều tra và các quyết định tố tụng được thực hiện; đồng thời tăng cường hướng dẫn, kiểm tra của cấp trên và giám sát của viện kiểm sát. Cơ quan điều tra cấp tỉnh cần kịp thời tiếp nhận vụ án vượt quá năng lực cấp xã.
Đại biểu Vũ Thị Lan Anh cũng đề nghị làm rõ trường hợp người bị buộc tội không thực hiện đầy đủ cam kết bồi thường do hoàn cảnh khách quan, bất khả kháng có bị xem là vi phạm để phục hồi giải quyết vụ án hay không. Đồng thời, cần khẳng định lời nhận tội không thể là chứng cứ duy nhất để kết tội khi vụ án được phục hồi.
Hoàn thiện quy định về tố tụng điện tử và giám sát điện tử
Góp ý dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), đại biểu Lương Đình Hưng - Phó Tư lệnh pháp luật Cảnh sát biển Việt Nam đề nghị rà soát cách sắp xếp các cơ quan, người được giao tiến hành một số hoạt động điều tra tại Điều 39, bảo đảm thống nhất với Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự.
Về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự tại Điều 289, đại biểu Lương Đình Hưng - Phó Tư lệnh pháp luật Cảnh sát biển Việt Nam, đề nghị nghiên cứu bổ sung các đối tượng như người được động viên sẵn sàng chiến đấu; dân quân tự vệ khi thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; công dân được điều động, trưng tập hoặc hợp đồng phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
Về tố tụng điện tử, đại biểu đề nghị thống nhất thuật ngữ về hồ sơ vụ án, văn bản, dữ liệu và phương tiện điện tử, bảo đảm phù hợp pháp luật liên quan; đồng thời chuẩn hóa tên gọi một số chức danh thuộc lực lượng Cảnh sát biển.
Đại biểu Lương Đình Hưng đánh giá việc bổ sung giám sát điện tử thay thế tạm giam trong trường hợp phù hợp là hướng tiếp cận nhân văn, góp phần bảo đảm quyền con người, tạo điều kiện để người bị buộc tội tiếp tục lao động, chăm sóc gia đình. Tuy nhiên, cần có phương án xử lý sự cố kỹ thuật và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị giám sát.
Đại biểu thống nhất quy định các nội dung về tố tụng điện tử và giám sát điện tử có hiệu lực từ ngày 1/1/2028, tạo thời gian chuẩn bị hạ tầng, trang thiết bị và nhân lực, bảo đảm triển khai an toàn, hiệu quả.
Bảo đảm điều kiện thực hiện thỏa thuận quốc tế ở địa phương
Góp ý dự án Luật Thỏa thuận quốc tế (sửa đổi), đại biểu Ngô Nam Cường - Phó Tư lệnh Quân khu 4, đề nghị gắn phân cấp, đơn giản hóa thủ tục với cơ chế kiểm soát rủi ro, bảo đảm nguồn lực và trách nhiệm thực hiện, nhất là trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh.
Từ thực tiễn hợp tác với Lào, đại biểu Ngô Nam Cường cho rằng, các hoạt động hội đàm, trao đổi đoàn, đào tạo, tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ và giao lưu, kết nghĩa biên giới góp phần củng cố quan hệ hữu nghị, giữ vững biên giới hòa bình, ổn định. Việc thực hiện các cam kết cần bảo đảm nhân lực, kinh phí, phiên dịch và cơ chế phối hợp đồng bộ.
Trong điều kiện tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, đại biểu Ngô Nam Cường đề nghị làm rõ trách nhiệm hỗ trợ của cấp tỉnh đối với cấp xã khi ký kết thỏa thuận quốc tế; phân định nhiệm vụ của cấp xã và cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, đồng thời bố trí nguồn lực, đầu mối hỗ trợ pháp lý, ngoại ngữ, nghiệp vụ đối ngoại.
Về quốc phòng, an ninh, đại biểu Ngô Nam Cường đề nghị đánh giá thỏa thuận dựa trên nội dung, phạm vi tác động và nguy cơ phát sinh, không chỉ căn cứ tên gọi. Làm rõ trách nhiệm phối hợp, cơ chế xử lý ý kiến khác nhau, bảo đảm tiếp thu đầy đủ ý kiến của cơ quan quân sự, công an, bộ đội biên phòng và lực lượng trực tiếp làm nhiệm vụ trên địa bàn.
Đại biểu cũng đề nghị rà soát Điều 34, phân biệt sửa đổi kỹ thuật với trường hợp phải báo cáo, lấy ý kiến hoặc quyết định trực tiếp; bảo đảm việc sửa đổi, bổ sung nằm trong phạm vi thẩm quyền, ủy quyền hợp pháp.
Với các thỏa thuận có nhiều cơ quan tham gia, cần xác định rõ đầu mối chủ trì, điều phối và xử lý vấn đề vượt thẩm quyền. Nội dung báo cáo theo Điều 38 cần phản ánh kết quả, nhiệm vụ chậm tiến độ, nguyên nhân và kiến nghị xử lý. Đồng thời, phải quy định trách nhiệm đề xuất điều chỉnh, tạm đình chỉ hoặc chấm dứt thỏa thuận khi không còn phù hợp.
Làm rõ thẩm quyền ký thỏa thuận quốc tế của cấp xã
Đại biểu Phạm Phú Bình - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội đánh giá việc mở rộng thẩm quyền ký kết cho cấp xã phù hợp mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, nhưng cần gắn với năng lực, nguồn lực và cơ chế kiểm soát.
Đại biểu đề nghị làm rõ ranh giới giữa thỏa thuận quốc tế và điều ước quốc tế; không lấy tên văn kiện làm căn cứ xác định bản chất pháp lý mà cần dựa vào nội dung và mức độ ràng buộc.
Về thẩm quyền cấp xã, đại biểu nêu thực tế tại huyện Kỳ Sơn trước đây, nhiều hoạt động hợp tác với các địa phương của Lào được triển khai trên phạm vi toàn huyện. Nếu chỉ xã trực tiếp giáp biên giới được ký kết thì những xã còn lại có thể gặp khó khăn khi tiếp tục các hoạt động đã có.
Đại biểu Phạm Phú Bình đề nghị không hạn chế thẩm quyền nếu đã xác định chủ trương phân quyền, đồng thời có thể giao UBND cấp tỉnh phê duyệt, kiểm tra để bảo đảm đúng đối tượng, nội dung và thẩm quyền.
Đại biểu cũng đề nghị hướng dẫn cụ thể về cấp chính quyền tương ứng giữa Việt Nam và đối tác nước ngoài, bởi mô hình hành chính mỗi nước khác nhau. Các phương thức hợp tác như xã ký với xã, xã ký với huyện hoặc nhiều xã cùng ký với một đơn vị cấp huyện cần được xem xét phù hợp thực tiễn, bảo đảm tính tương xứng và thuận lợi khi thực hiện.
Hoàn thiện quy định về ký điện tử, dữ liệu
Thống nhất với việc mở rộng chủ thể ký kết thỏa thuận quốc tế, nhất là UBND cấp xã và đơn vị sự nghiệp công lập, đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm Khoa học Công nghệ và Chuyển đổi số đánh giá cao các quy định mới về ký điện tử, thủ tục rút gọn và cơ sở dữ liệu.
Tuy nhiên, đại biểu đề nghị quy định ngay trong luật các nguyên tắc, phạm vi và điều kiện cơ bản về thẩm quyền ký kết thỏa thuận quốc tế của cấp xã, thay vì giao Chính phủ quy định toàn bộ.
Đồng thời, cần bảo đảm thống nhất giữa Khoản 3, Điều 20 và Điều 41, làm rõ trách nhiệm của Chủ tịch UBND cấp xã, người đứng đầu đơn vị ký kết trong tổ chức thực hiện, quản lý kinh phí, báo cáo và giải trình.
Đối với đơn vị sự nghiệp công lập, cần tạo điều kiện chủ động ký kết thỏa thuận chuyên môn phù hợp phạm vi tự chủ, lĩnh vực hợp tác và khả năng nguồn lực.
Đối với cơ sở dữ liệu về thỏa thuận quốc tế, cần quy định rõ việc phân loại, kết nối, chia sẻ, phân quyền khai thác và cập nhật dữ liệu; bảo đảm tính chính xác, an toàn, bảo mật, phân biệt dữ liệu quản lý nhà nước với dữ liệu công khai, bảo vệ thông tin cá nhân, bí mật kinh doanh và sở hữu trí tuệ, hướng tới nguyên tắc “cập nhật một lần, sử dụng nhiều lần”.
Đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú cũng đề nghị xác định cụ thể kinh phí xây dựng, vận hành cơ sở dữ liệu, ký điện tử, đào tạo cán bộ và thực hiện thỏa thuận; đồng thời hỗ trợ các xã biên giới, vùng khó khăn và làm rõ nguồn kinh phí hợp pháp của đơn vị sự nghiệp công lập.
Phạm Bằng - Tuấn Tài



