- Qua nghiên cứu dự thảo Luật, đại biểu đánh giá như thế nào về những nội dung sửa đổi, bổ sung lần này?

- Tôi nhất trí với sự cần thiết sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Qua nghiên cứu dự thảo, tôi cho rằng các nội dung sửa đổi lần này đã bám sát yêu cầu thực tiễn, nhất là yêu cầu cải cách thủ tục hành chính, nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp, tăng cường quản lý nhà nước và bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động.

Theo tôi, trước hết cần đặt mục tiêu bảo vệ người lao động ở vị trí xuyên suốt trong quá trình sửa đổi Luật.

Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là nhóm đối tượng có vị trí đặc thù. Khi ở nước ngoài, họ vừa chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam, vừa phải tuân thủ pháp luật của nước tiếp nhận; đồng thời có thể đối mặt với nhiều rủi ro về hợp đồng, tiền lương, điều kiện làm việc, cư trú, tai nạn lao động, bạo lực, phân biệt đối xử hoặc những tình huống bất ổn về an ninh, chính trị.

img_8002.jpeg
Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An dự phiên họp tại Hội trường. Ảnh: Lâm Hiển

Tôi đánh giá cao việc dự thảo đã bổ sung trách nhiệm của doanh nghiệp trong quản lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động; đồng thời phải thông tin, báo cáo kịp thời cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài khi xảy ra vụ việc ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động. Đặc biệt, dự thảo đã đề cập việc hỗ trợ người lao động tiếp cận dịch vụ trợ giúp pháp lý khi bị lạm dụng, bạo lực hoặc phân biệt đối xử.

Tuy nhiên, tôi đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục làm rõ hơn trách nhiệm của doanh nghiệp đối với người lao động, từ khâu tuyển chọn, đào tạo, đưa đi, quản lý trong thời gian làm việc ở nước ngoài cho đến khi người lao động về nước.

Theo tôi, không nên chỉ coi trách nhiệm của doanh nghiệp kết thúc ở việc đưa người lao động xuất cảnh. Khi người lao động gặp rủi ro ở nước ngoài thì phải xác định rõ doanh nghiệp phải làm gì, cơ quan nào chủ trì, cơ quan nào phối hợp và thời hạn xử lý như thế nào... Đây là vấn đề cần được quy định đủ rõ để tránh tình trạng khi có vụ việc xảy ra thì trách nhiệm bị phân tán.

Tôi đề nghị tiếp tục siết chặt quản lý đối với doanh nghiệp dịch vụ, nhất là hành vi lợi dụng, cho thuê hoặc cho người khác sử dụng giấy phép.

Dự thảo đã bổ sung khái niệm “trực tiếp tuyển chọn” và “cho người khác sử dụng giấy phép”; đồng thời quy định điều kiện cấp giấy phép theo hướng loại trừ những doanh nghiệp đã bị thu hồi giấy phép trong thời hạn 5 năm và hạn chế trường hợp người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp mới chính là người đại diện của doanh nghiệp đã bị thu hồi giấy phép trong thời hạn này.

Tôi cho rằng, đây là hướng sửa đổi đúng, bởi thực tế nếu quản lý không chặt thì giấy phép có thể trở thành công cụ để một số tổ chức, cá nhân trung gian hoạt động núp bóng doanh nghiệp có giấy phép, làm phát sinh phí môi giới, chi phí trái quy định và cuối cùng người chịu thiệt vẫn là người lao động.

Tuy nhiên, tôi đề nghị Chính phủ trong quy định chi tiết cần làm rõ tiêu chí nhận diện hành vi “cho người khác sử dụng giấy phép”, trách nhiệm của doanh nghiệp được cấp phép và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân thực tế thực hiện tuyển chọn, cung ứng lao động. Đồng thời, cần tăng cường hậu kiểm trên cơ sở dữ liệu, thay vì chỉ kiểm soát chặt ở khâu cấp phép.

- Đại biểu đánh giá như thế nào về quy định cho phép doanh nghiệp chủ động chuẩn bị nguồn trước khi đăng ký hợp đồng cung ứng lao động?

- Tôi cơ bản đồng tình với việc cho phép doanh nghiệp chủ động chuẩn bị nguồn trước khi đăng ký hợp đồng cung ứng lao động. Đây là điểm có thể giúp doanh nghiệp chủ động hơn, đáp ứng nhanh nhu cầu của thị trường lao động quốc tế.

36_watermarked.jpg
ĐBQH Trần Đức Thuận (Nghệ An) phát biểu. Ảnh: Khánh Duy

Dự thảo cũng quy định doanh nghiệp phải thông báo cho UBND cấp xã nơi tổ chức chuẩn bị nguồn và cập nhật thông tin trên hệ thống cơ sở dữ liệu; trường hợp đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề, ngoại ngữ thì chỉ được thu phí sau khi người lao động đã được phía nước ngoài tuyển chọn.

Tôi cho rằng quy định này có ý nghĩa rất quan trọng để ngăn ngừa tình trạng thu tiền của người lao động khi chưa chắc chắn về việc làm.

Tôi đề nghị nghiên cứu bổ sung nguyên tắc: việc chuẩn bị nguồn phải gắn với nhu cầu thị trường, tiêu chuẩn tuyển chọn và khả năng ký kết hợp đồng thực tế; đồng thời phải công khai các khoản chi phí mà người lao động có thể phải trả.

Cần đặc biệt kiểm soát các khoản thu dưới danh nghĩa “đặt cọc”, “giữ chỗ”, “đào tạo nguồn” hoặc các khoản phí tương tự khi chưa có căn cứ chắc chắn về việc người lao động được tuyển chọn.

- Đại biểu có đề xuất gì để hoàn thiện các quy định về bảo đảm an ninh, an toàn cho người lao động Việt Nam ở nước ngoài?

- Tôi đề nghị quan tâm hơn đến yêu cầu bảo đảm an ninh, an toàn đối với người lao động Việt Nam ở nước ngoài. Đây là vấn đề không chỉ được nhìn nhận ở dưới góc độ lao động mà còn dưới góc độ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và bảo hộ công dân.

Dự thảo đã sửa đổi quy định về những khu vực người lao động không được đưa đến làm việc, trong đó bao gồm khu vực đang có chiến sự, có nguy cơ xảy ra chiến sự hoặc được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam khuyến cáo không đến hoặc hạn chế đến vì chiến tranh, xung đột vũ trang, khủng bố, bạo loạn, bất ổn chính trị hoặc các nguy cơ nghiêm trọng đe dọa an toàn công dân.

bo-truong-bo-tu-phap-hoang-thanh-tung-giai-trinh-lam-ro-mot-so-van-de-dbqh-quan-tamchi_9976.jpg
Toàn cảnh phiên họp tại Hội trường, sáng 10/8. Ảnh: Quang Khánh

Tôi đề nghị quy định này phải được thực hiện theo hướng chủ động phòng ngừa rủi ro, không chờ đến khi xảy ra vụ việc mới xử lý.

Đồng thời, cần có cơ chế cập nhật nhanh thông tin về tình hình an ninh, chính trị, thiên tai, dịch bệnh tại các địa bàn có đông lao động Việt Nam; từ đó kịp thời điều chỉnh việc tuyển chọn, đưa người lao động sang làm việc hoặc tổ chức đưa người lao động về nước khi cần thiết.

Đặc biệt, dự thảo đã bổ sung trách nhiệm phối hợp với Bộ Công an trong trao đổi thông tin, quản lý tình hình người lao động Việt Nam ở nước ngoài, phòng ngừa và xử lý các vụ việc liên quan đến xuất cảnh trái phép, mua bán người, cưỡng bức lao động và các vấn đề liên quan đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Tôi rất đồng tình với quy định này. Tuy nhiên, tôi đề nghị cần thiết kế cơ chế phối hợp thực chất, thường xuyên và có đầu mối rõ ràng giữa cơ quan quản lý nhà nước về lao động, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và chính quyền địa phương.

Bởi quản lý người lao động Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là quản lý một hoạt động kinh tế - lao động, mà còn liên quan trực tiếp đến bảo hộ công dân, phòng, chống mua bán người, phòng, chống xuất cảnh trái phép, phòng ngừa tội phạm xuyên quốc gia và bảo đảm an ninh, an toàn cho công dân Việt Nam.

Cuối cùng, tôi đề nghị quan tâm đến tính khả thi của các quy định chuyển tiếp.

Dự thảo quy định Luật có hiệu lực từ ngày 1/3/2027 và có một số quy định chuyển tiếp đối với hồ sơ, thủ tục đã được tiếp nhận, hoạt động chuẩn bị nguồn đã được chấp thuận và các hợp đồng lao động đã được đăng ký trước thời điểm Luật có hiệu lực.

Tôi đề nghị Chính phủ rà soát kỹ để bảo đảm nguyên tắc không làm gián đoạn hoạt động hợp pháp của doanh nghiệp, không gây thiệt hại cho người lao động, nhưng đồng thời không để lợi dụng quy định chuyển tiếp để tiếp tục thực hiện những hoạt động không còn phù hợp với chính sách mới của Luật.

- Xin trân trọng cảm ơn đại biểu!