bna_2hgb6f3nelbcnp4oa3zgjukijwtng0rnkxni.jpg?md5=MH2H8NaIZDkjwIeRwkNERA&expires=1786547179
Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI. Ảnh: Viết Chung

Chiều 12/8, ngày làm việc thứ 10 của Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An thảo luận, góp ý dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.

Rút ngắn thủ tục để đưa vật liệu khoáng sản vào công trường

Đại biểu Thái Thị An Chung đánh giá cao quyết tâm cải cách hành chính và tinh thần đổi mới xây dựng thể chế của Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khi trình dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật trong lĩnh vực nông nghiệp.

Theo đại biểu, việc sửa đổi lần này không chỉ là rà soát, hoàn thiện các quy định pháp luật mà còn thể hiện sự chuyển đổi tư duy quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm, từ quản lý bằng thủ tục sang quản lý dựa trên rủi ro. Đây là hướng đi nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn, giảm chi phí tuân thủ và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

bna_202608121437106055_z8144082199641_19cc6547a332fd9fd4aa2b030d34dca7.jpg?md5=Sy3Sd8YP1lFNVWLtuMoa8Q&expires=1786547179
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên điều hành nội dung thảo luận. Ảnh: Viết Chung

Góp ý về Luật Địa chất và Khoáng sản, đại biểu Thái Thị An Chung đồng tình với các quy định phân cấp thẩm quyền thực hiện thủ tục hành chính theo Nghị quyết số 66.19 của Chính phủ, đồng thời ủng hộ việc luật hóa các quy định của Nghị quyết số 66.4/2025. Theo đại biểu, việc triển khai nghị quyết này trên thực tế đã góp phần đẩy nhanh tiến độ các dự án, công trình trọng điểm.

Tuy nhiên, đối với khoáng sản nhóm 3 làm vật liệu xây dựng thông thường, việc cấp phép khai thác vẫn có trường hợp kéo dài, chưa đáp ứng kịp nhu cầu vật liệu cho các công trình, dự án, nhất là các dự án quan trọng quốc gia và các dự án phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.

Từ thực tiễn triển khai, đại biểu cho rằng vấn đề không hẳn nằm ở việc thiếu tài nguyên, mà ở khoảng thời gian từ khi xác định được nguồn khoáng sản đến khi có thể đưa vào khai thác. Trong khi nhu cầu vật liệu của các dự án phát sinh theo từng giai đoạn, từng đoạn tuyến, quy trình thăm dò, công nhận kết quả thăm dò và cấp phép hiện vẫn được thực hiện theo trình tự tuần tự.

bna_2hgb6f3rnz35htdtq4hlq28vhovao3brx3so.jpg?md5=zkCJa74UN6VTAGotfYWWFQ&expires=1786547179
Đại biểu Thái Thị An Chung phát biểu góp ý vào dự thảo luật. Ảnh: Viết Chung

Có những trường hợp một phần khu vực khoáng sản đã được xác định tương đối rõ về vị trí, chất lượng và trữ lượng nhưng vẫn phải chờ hoàn thành toàn bộ quá trình thăm dò mới có thể chuyển sang khai thác.

Để khắc phục tình trạng này, đại biểu Thái Thị An Chung đề nghị nghiên cứu cơ chế công nhận kết quả thăm dò từng phần, khai thác từng phần. Theo đó, trong quá trình thăm dò, nếu một phần khu vực khoáng sản đã đáp ứng các yêu cầu về ranh giới, chất lượng và trữ lượng thì tổ chức, cá nhân được đề nghị công nhận kết quả thăm dò đối với phần đã xác định; phần còn lại tiếp tục được thăm dò theo đề án đã được phê duyệt.

Đại biểu đồng thời đề nghị bổ sung vào nguyên tắc cấp giấy phép khai thác khoáng sản quy định cho phép cấp phép đối với phần khoáng sản đã xác định đủ điều kiện về ranh giới, chất lượng, trữ lượng và điều kiện khai thác để phục vụ các dự án thuộc phạm vi Nghị quyết 66.4, trong khi vẫn tiếp tục thăm dò phần còn lại.

cac-dai-bieu-tai-phien-hopvqk_8929.jpg?md5=zJKLkNNj0Kw46DPvds4cGw&expires=1786547179
Các đại biểu Quốc hội dự phiên thảo luận hội trường. Ảnh: daibieunhandan.vn

Theo đại biểu Thái Thị An Chung, giải pháp này sẽ rút ngắn thời gian đưa vật liệu vào công trường nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu quản lý chặt chẽ tài nguyên, đồng thời tạo cơ chế pháp lý ổn định thay vì phải xây dựng cơ chế đặc thù cho từng dự án.

Một nội dung khác được đại biểu Thái Thị An Chung đề cập là thu hồi khoáng sản trong hoạt động nạo vét. Theo đại biểu, chủ trương thu hồi cát, sỏi trong quá trình nạo vét lòng sông, lòng hồ thủy lợi, thủy điện, luồng lạch là phù hợp, vừa tận dụng hiệu quả tài nguyên, vừa góp phần khơi thông dòng chảy và phát huy công năng của công trình.

Tuy nhiên, hệ thống pháp luật chuyên ngành hiện còn chưa đồng bộ, có nội dung chồng chéo, khiến thủ tục thực hiện gặp khó khăn và kéo dài.

z72_8421.jpg?md5=9D8BSsMC2d1MPB-PRsJ75g&expires=1786547179
Các đại biểu Quốc hội dự phiên thảo luận hội trường. Ảnh: daibieunhandan.vn

Vì vậy, đại biểu đề nghị lần sửa đổi này cần có quy định ngắn gọn, thống nhất, rõ trách nhiệm, tạo cơ chế thuận lợi cho việc thu hồi và sử dụng khoáng sản trong quá trình nạo vét, đồng thời bảo đảm quản lý chặt chẽ tài nguyên, chống thất thoát. Các thủ tục cũng cần được đơn giản hóa, dễ thực hiện và phù hợp với thực tế của địa phương, doanh nghiệp.

Tự công bố phải đi đôi với trách nhiệm pháp lý

Góp ý dự thảo Luật, đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú tập trung vào ba nhóm vấn đề: công bố thông tin sản phẩm thức ăn chăn nuôi; trao đổi quốc tế nguồn gen giống vật nuôi; và tự công bố lưu hành giống cây trồng.

Về công bố thông tin sản phẩm thức ăn chăn nuôi, đại biểu tán thành chuyển sang cơ chế tự công bố nhằm giảm thủ tục và chi phí cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, bà cho rằng cần xử lý nguy cơ doanh nghiệp phải cung cấp cùng một thông tin trên hai hệ thống khác nhau.

bna_2hgb6f3rbhg1b9tykrqi5terszyldhaf7wuy.jpg?md5=XB33P4LUZ1H6S5THtg1i0w&expires=1786547179
Đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú phát biểu góp ý vào dự thảo luật. Ảnh: Viết Chung

Theo đại biểu, doanh nghiệp hiện đã phải thực hiện các nghĩa vụ về tiêu chuẩn, hợp chuẩn, hợp quy trên cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, trong khi quy định về thức ăn chăn nuôi lại yêu cầu tiếp tục công bố thông tin trên hệ thống thông tin của cơ quan quản lý chuyên ngành. Điều này có thể dẫn đến việc khai báo trùng lặp.

Đại biểu ủng hộ phương án liên thông dữ liệu nhưng cho rằng không nên chỉ giải quyết bằng giải pháp phần mềm. Quyền của doanh nghiệp được “một lần khai báo, nhiều cơ quan cùng sử dụng” cần được bảo đảm ngay trong quy định của Luật.

Đồng thời, thay vì ghi cứng tên một cổng thông tin cụ thể, luật nên quy định việc công bố trên hệ thống thông tin chuyên ngành về chăn nuôi để phù hợp với quá trình thay đổi, phát triển của hệ thống công nghệ.

z72_9242.jpg?md5=BP2Nqa711gIPfwNmlTVp5Q&expires=1786547179
Các đại biểu Quốc hội dự phiên thảo luận hội trường. Ảnh: daibieunhandan.vn

Một điểm được đại biểu nhấn mạnh là quyền tự công bố phải đi cùng trách nhiệm pháp lý tương xứng. Khi Luật trao quyền tự công bố, tự thay đổi thông tin thì cũng cần quy định rõ chủ thể tự công bố phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, không nên chỉ quy định trách nhiệm tại văn bản dưới luật.

Đại biểu đề nghị hệ thống công bố thức ăn chăn nuôi phải kết nối, chia sẻ với các cơ sở dữ liệu quốc gia có liên quan; dữ liệu Nhà nước đã có thì doanh nghiệp không phải kê khai, cung cấp lại. Đồng thời, chủ thể tự công bố phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, kịp thời của thông tin; hoạt động hậu kiểm cần dựa trên mức độ rủi ro, truy xuất nguồn gốc và lịch sử tuân thủ.

Về trao đổi quốc tế nguồn gen giống vật nuôi, đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú đánh giá chủ trương phân quyền thẩm quyền chấp thuận từ Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường sang Chủ tịch UBND cấp tỉnh nơi lưu giữ nguồn gen là phù hợp.

vqk_9148.jpg?md5=82BoNMtkTX6W29DTLjGClg&expires=1786547179
Các đại biểu Quốc hội dự phiên thảo luận hội trường. Ảnh: daibieunhandan.vn

Tuy nhiên, do đối tượng quản lý là nguồn gen thuộc danh mục cấm xuất khẩu và nguồn gen quý hiếm của Việt Nam, đại biểu đề nghị quy định chặt chẽ hơn. Cụ thể, việc chấp thuận theo Luật Chăn nuôi không được thay thế các nghĩa vụ về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích theo Luật Đa dạng sinh học; đồng thời cần quy định ngay trong Luật các nguyên tắc về bảo tồn nguồn gen, đa dạng sinh học, an toàn sinh học và lợi ích quốc gia, thay vì chỉ quy định tại thông tư.

Bên cạnh đó, quyết định của địa phương về việc chấp thuận trao đổi quốc tế nguồn gen cần được cập nhật vào cơ sở dữ liệu quốc gia. Đại biểu đề nghị bổ sung rõ các nguyên tắc này trong quy định của Luật Chăn nuôi để tránh chồng chéo, bỏ sót nghĩa vụ pháp lý.

Đối với quy định về tự công bố lưu hành giống cây trồng, đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú cho rằng hướng sửa đổi là phù hợp, song dự thảo mới chủ yếu quy định trách nhiệm tại thời điểm công bố, chưa làm rõ đầy đủ trách nhiệm sau công bố.

bna_2aoboqqvujzpn9igcjvwmnd3yznftz8g7laestsc.jpg?md5=tJOFU69GYMjI7rgVB5BkXw&expires=1786547179
Toàn cảnh phiên thảo luận hội trường chiều 12/8. Ảnh: Viết Chung

Theo đại biểu, các quy định về trách nhiệm cần được thể hiện ngay trong Luật, thay vì giao toàn bộ cho thông tư. Bốn nhóm trách nhiệm cần được quy định rõ gồm: tự chịu trách nhiệm; lưu giữ bằng chứng, hồ sơ; cập nhật thông tin khi có thay đổi; và chịu hậu quả khi thông tin sai hoặc giống cây trồng không còn đáp ứng nội dung đã công bố.

Đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú đề nghị tổ chức, cá nhân tự công bố lưu hành giống cây trồng phải chịu trách nhiệm về tính đầy đủ, chính xác của thông tin; có trách nhiệm lưu giữ hồ sơ, cập nhật thông tin khi có thay đổi và thực hiện các biện pháp khắc phục, thu hồi theo quy định. Trong khi đó, các nội dung mang tính kỹ thuật như tiêu chí hậu kiểm, tần suất, phương thức lưu trữ và xử lý sự cố kỹ thuật có thể giao Chính phủ quy định.

Phạm Bằng - Tuấn Tài