Trao đổi với phóng viên, Giám đốc Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An, ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú cho rằng: việc sửa Luật cần tạo chuyển biến thực chất, từ cắt giảm thủ tục đến tháo gỡ điểm nghẽn trong chuyển giao, làm chủ công nghệ; qua đó góp phần nâng cao năng suất, sức cạnh tranh và năng lực tự chủ của nền kinh tế.

Không chỉ cắt thủ tục, phải giảm thực chất thời gian và chi phí

– Từ thực tiễn hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đại biểu đánh giá như thế nào về những nội dung sửa đổi, bổ sung tại 4 Luật?

– Tôi cho rằng, điểm đáng ghi nhận trước hết là dự án Luật lần này lựa chọn cách sửa đổi có trọng tâm, không sửa đổi phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của 4 luật mà tập trung xử lý những vấn đề đang vướng trong thực tiễn. Đó là cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện đầu tư kinh doanh không còn phù hợp; đẩy mạnh phân quyền, phân cấp trong quản lý nhà nước; đồng thời hoàn thiện một số quy định có liên quan để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.

Dự thảo dự kiến bãi bỏ 2 thủ tục hành chính, cắt giảm 47 điều kiện kinh doanh, đơn giản hóa 4 điều kiện và sửa đổi, bổ sung 3 điều kiện; các văn bản quy định chi tiết cũng dự kiến bãi bỏ 4 thủ tục và sửa đổi, đơn giản hóa 78 thủ tục.

cac-dai-bieu-tai-phien-hopvqk_8231.jpg?md5=_XTMgNKVGc1XyY5HK5jxLQ&expires=1786556322
Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An dự Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI. Ảnh: Quang Khánh

Đây không chỉ là những con số về cải cách thủ tục. Việc cắt giảm, đơn giản hóa có thể rút ngắn thời gian đưa một dự án công nghệ, một dịch vụ mới ra thị trường và giảm đáng kể chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.

Tôi đồng tình với cách tiếp cận chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Tuy nhiên, bỏ một điều kiện không có nghĩa là bỏ công cụ quản lý. Đối với mỗi điều kiện được bãi bỏ, phải xác định được công cụ hậu kiểm nào thay thế, cơ quan nào chịu trách nhiệm, dữ liệu nào được sử dụng để giám sát và tiêu chí nào để đánh giá.

Nếu chỉ bỏ giấy tờ ở khâu cấp phép nhưng sau đó phát sinh thêm báo cáo, xác nhận hoặc thủ tục khác thì doanh nghiệp không thực sự được giảm chi phí. Ngược lại, nếu cắt tiền kiểm mà hậu kiểm không đủ năng lực thì có thể tạo khoảng trống quản lý.

Đặt việc sửa Luật trong bối cảnh đổi mới sáng tạo hiện nay, yêu cầu cải cách thể chế càng rõ. Năm 2025, Việt Nam đứng thứ 44 về Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII), thứ 50 về đầu vào và thứ 37 về đầu ra đổi mới sáng tạo; tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo đạt 34,6% và có 962 doanh nghiệp khoa học và công nghệ tính đến tháng 11/2025.

Trong khi đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo phải đạt trên 40%, quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP. Những con số này cho thấy, chúng ta đã có một nền tảng nhất định, nhưng dư địa để đưa đổi mới sáng tạo đi sâu hơn vào khu vực doanh nghiệp còn rất lớn.

Thước đo cuối cùng không phải chỉ là “cắt được bao nhiêu thủ tục”, mà là thời gian thực hiện công việc có thực sự ngắn hơn không, chi phí tuân thủ có giảm không, doanh nghiệp có dễ đầu tư và đổi mới công nghệ hơn không; đồng thời, Nhà nước có quản lý tốt hơn bằng dữ liệu và quản trị rủi ro hay không.

Nếu đạt được những yêu cầu đó thì việc sửa 4 Luật mới thực sự tạo ra tác động đối với phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Trong bối cảnh các hoạt động kinh tế - xã hội ngày càng dịch chuyển lên môi trường số, theo đại biểu, các quy định về giao dịch điện tử cần được hoàn thiện như thế nào để đáp ứng yêu cầu thực tiễn?

– Khi kinh tế và xã hội chuyển lên môi trường số thì yếu tố quan trọng nhất không chỉ là có thể thực hiện giao dịch điện tử, mà là các bên có đủ niềm tin để giao dịch hay không. Chữ ký điện tử, dấu thời gian, chứng thực thông điệp dữ liệu, định danh và lưu trữ điện tử chính là những cấu phần tạo ra niềm tin đó.

Dự thảo lần này sửa khoản 4 Điều 28 Luật Giao dịch điện tử theo hướng bỏ các thủ tục “gia hạn”, “thay đổi nội dung” giấy phép kinh doanh dịch vụ tin cậy, tập trung vào cấp, cấp lại, tạm đình chỉ và thu hồi giấy phép.

Tôi cơ bản đồng tình với mục tiêu đơn giản hóa, nhưng dịch vụ tin cậy là loại hình đặc biệt. Đây là hạ tầng đầu vào của giao dịch điện tử, liên quan trực tiếp đến thanh toán, tài chính, ngân hàng, hóa đơn điện tử và dịch vụ công. Vì vậy, đơn giản hóa thủ tục phải đi cùng yêu cầu bảo đảm dịch vụ liên tục, an toàn và có khả năng truy xuất trách nhiệm.

259a1029.jpg?md5=69nr75rgzQTkiwOMJ2_QSA&expires=1786556322
Các ĐBQH dự phiên thảo luận tại Hội trường. Ảnh: Khánh Duy

Theo tôi, nếu thực hiện thủ tục cấp lại thì phải thiết kế thật sự khác với tư duy hồ sơ giấy: dữ liệu mà cơ quan nhà nước đã có không yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại; quy trình phải thực hiện trực tuyến; thời hạn xử lý đủ ngắn và đặc biệt không được để xảy ra khoảng thời gian doanh nghiệp buộc phải dừng cung cấp dịch vụ chỉ vì đang chờ hoàn thành thủ tục.

Nhìn xa hơn, tôi cho rằng, pháp luật về giao dịch điện tử cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng mặc định số nhưng không đánh đổi an toàn.

Giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu, chữ ký điện tử và hồ sơ điện tử phải được công nhận thống nhất giữa các ngành; các hệ thống phải có khả năng liên thông; cơ chế xác thực cần phân tầng theo mức độ rủi ro của giao dịch, không áp dụng một mức yêu cầu cho mọi trường hợp.

Đồng thời, phải xử lý tốt vấn đề lưu trữ lâu dài, xác thực thời điểm, chứng cứ điện tử, giao dịch xuyên biên giới và công nhận dịch vụ tin cậy nước ngoài trên cơ sở có đi có lại và bảo đảm an ninh.

Yêu cầu này càng cấp thiết khi Chính phủ đặt mục tiêu năm 2026 tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số đạt 14,5% GDP, còn Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định đến năm 2030 quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP, tỷ lệ giao dịch không dùng tiền mặt đạt 80%.

Khi một phần ngày càng lớn của nền kinh tế vận hành trên môi trường số, hạ tầng niềm tin số phải được nhìn nhận tương tự như hạ tầng thanh toán hay hạ tầng viễn thông: được vận hành liên tục, có khả năng chống chịu, có chuẩn chung và trách nhiệm pháp lý rõ ràng.

Đưa kết quả nghiên cứu đến thị trường, tiến tới làm chủ công nghệ

Một trong những vấn đề đặt ra lâu nay là khoảng cách từ kết quả nghiên cứu đến ứng dụng trong thực tiễn. Theo đại biểu, cần tháo gỡ những điểm nghẽn nào về cơ chế, chính sách để thúc đẩy chuyển giao, tiếp nhận và làm chủ công nghệ, đưa khoa học, công nghệ thực sự trở thành động lực phát triển?

– Theo tôi, đây mới là bài toán cốt lõi. Chúng ta có thể có thêm nhiều đề tài, sáng chế, công bố khoa học, nhưng nếu kết quả nghiên cứu không đi vào sản xuất và đời sống thì khoa học, công nghệ chưa chuyển hóa đầy đủ thành năng suất và tăng trưởng.

Cần nhìn nhận rằng pháp luật đã chuyển hướng. Luật Chuyển giao công nghệ sửa đổi năm 2025 đã thay đổi cách tiếp cận, không coi chuyển giao công nghệ đơn thuần là một giao dịch mà hướng tới việc đưa công nghệ vào ứng dụng thực tiễn, tạo ra sản phẩm, dịch vụ và phương thức sản xuất mới; đồng thời mở rộng cơ chế thương mại hóa kết quả nghiên cứu và ưu tiên công nghệ cao, công nghệ chiến lược, công nghệ mới, công nghệ sạch, công nghệ xanh... Đó là sự thay đổi đúng hướng, nhưng để biến thành kết quả thực tế thì vẫn còn một số nút thắt phải tiếp tục xử lý.

Điểm nghẽn thứ nhất là quyền đối với kết quả nghiên cứu và cơ chế khai thác tài sản trí tuệ hình thành từ ngân sách nhà nước. Cần làm rõ ai được quyền quyết định chuyển giao, ai được hưởng lợi, phương pháp định giá như thế nào và trách nhiệm của người ra quyết định đến đâu.

Nếu một viện nghiên cứu hoặc trường đại học phải trải qua quá nhiều lớp xin ý kiến mới có thể chuyển giao một công nghệ, hoặc người đứng đầu luôn lo rủi ro trách nhiệm khi định giá một tài sản trí tuệ chưa hình thành thị trường, thì kết quả nghiên cứu rất dễ nằm lại trong ngăn kéo.

Nghị quyết số 57-NQ/TW đã đặt yêu cầu sửa đổi đồng bộ pháp luật về đầu tư, mua sắm công, ngân sách, tài sản công, sở hữu trí tuệ, thuế và giao quyền tự chủ cao hơn cho hoạt động nghiên cứu.

Điểm nghẽn thứ hai là khoảng trống tài chính giữa nghiên cứu và thương mại hóa, thường là giai đoạn làm mẫu thử, kiểm chứng công nghệ, sản xuất thử và mở rộng quy mô.

Giai đoạn này rủi ro cao, ngân hàng khó cho vay, trong khi doanh nghiệp chưa sẵn sàng bỏ vốn lớn. Vì vậy, phải thiết kế các công cụ tài chính chia sẻ rủi ro, các quỹ đầu tư cho ươm tạo và công nghệ, hỗ trợ thử nghiệm có điều kiện, tài trợ theo mốc kết quả thay vì kiểm soát quá sâu từng khoản chi.

Hoạt động R&D vốn có khả năng thất bại; nếu mọi thất bại kỹ thuật đều bị nhìn như thất thoát ngân sách thì rất khó có đổi mới sáng tạo đột phá.

Nghị quyết số 57-NQ/TW đã đặt ra cả cơ chế thử nghiệm công nghệ mới có giám sát, cơ chế miễn trừ trách nhiệm trong một số trường hợp thiệt hại khách quan và hình thành các quỹ đầu tư mạo hiểm cho khởi nghiệp sáng tạo, ươm tạo công nghệ.

Điểm nghẽn thứ ba là thiếu thị trường cho sản phẩm công nghệ mới. Nhiều doanh nghiệp có thể làm được công nghệ nhưng không có khách hàng đầu tiên để chứng minh năng lực.

toan-canh-phien-hop1786504304843_4239758058827303393_g7481880999171593955_db3e8221985d71ee46a9ff15be52391c.jpg?md5=cjUH7WHsIRpmyKyd8CZjDg&expires=1786556322
Toàn cảnh phiên họp tại Hội trường. Ảnh: Quang Khánh

Tôi cho rằng, Nhà nước cần sử dụng công cụ đặt hàng, mua sắm công, thuê dịch vụ công nghệ và các bài toán lớn của quốc gia, địa phương để tạo cầu thị trường. Thực tế, Hà Nội đang thảo luận và triển khai theo hướng chính quyền đóng vai trò “khách hàng dẫn dắt”, sử dụng đặt hàng, giao nhiệm vụ và thuê dịch vụ công nghệ, lấy hiệu quả thực tế làm thước đo.

Đây là một kinh nghiệm đáng nghiên cứu để mở rộng trong những lĩnh vực phù hợp. Nhà nước không nhất thiết làm thay thị trường, nhưng có thể tạo ra thị trường ban đầu để công nghệ có cơ hội được kiểm chứng.

Điểm nghẽn thứ tư là năng lực tiếp nhận và làm chủ công nghệ của doanh nghiệp.

Chuyển giao công nghệ không thể chỉ là nhập máy móc, dây chuyền hoặc mua một giấy phép sử dụng. Chính sách phải khuyến khích chuyển giao đi kèm đào tạo nhân lực, quy trình kỹ thuật, khả năng bảo trì, cải tiến, nghiên cứu đồng phát triển và từng bước nội địa hóa.

Đối với các dự án FDI lớn và công nghệ chiến lược, cần có cơ chế thúc đẩy liên kết với doanh nghiệp, viện, trường trong nước, qua đó hình thành đội ngũ kỹ sư và mạng lưới nhà cung cấp có khả năng hấp thụ công nghệ.

Nghị quyết số 57-NQ/TW cũng xác định rõ yêu cầu đẩy mạnh chuyển giao tri thức thông qua khu vực FDI, chủ động mua và tiếp nhận công nghệ tiên tiến, đồng thời từng bước làm chủ các công nghệ chiến lược.

Một vấn đề nữa liên quan trực tiếp đến dự thảo lần này là việc chuyển thẩm quyền phê duyệt Chương trình quốc gia về phát triển thị trường khoa học và công nghệ, cũng như ban hành một số chương trình, chính sách về nhập khẩu công nghệ, chuyển giao, ứng dụng và đổi mới công nghệ từ Thủ tướng Chính phủ sang Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ.

Tôi đồng tình với mục tiêu rút ngắn tầng nấc trung gian để chính sách phản ứng nhanh hơn với tốc độ thay đổi của công nghệ. Tuy nhiên, Báo cáo thẩm tra đặt ra một vấn đề rất xác đáng: đây là các chương trình có tính liên ngành và có thể liên quan đến nguồn lực ngân sách lớn, vì vậy phân quyền phải đi cùng cơ chế thẩm định, phối hợp và trách nhiệm giải trình tương xứng.

Phân quyền không phải là hạ thấp yêu cầu thẩm định, mà là đưa quyền quyết định đến gần nơi có chuyên môn hơn, đồng thời xác định rõ người chịu trách nhiệm về kết quả.

– Xin trân trọng cảm ơn đại biểu!

db1.jpg?md5=v04QLV5mBdeJP8xeoxRMEg&expires=1786556322
ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú (Nghệ An)

Năm 2025, tỷ lệ doanh nghiệp Việt Nam có hoạt động đổi mới sáng tạo là 34,6%, số doanh nghiệp khoa học và công nghệ là 962. Những con số này cho thấy hoạt động đổi mới đã có nền tảng, nhưng để khoa học và công nghệ trở thành động lực tăng trưởng thì cần đánh giá nhiều hơn bằng số công nghệ được doanh nghiệp tiếp nhận, doanh thu từ sản phẩm mới, năng suất được nâng lên, tỷ lệ nội địa hóa, số doanh nghiệp hình thành từ kết quả nghiên cứu và giá trị tài sản trí tuệ được thương mại hóa, chứ không chỉ đếm đề tài nghiệm thu, bài báo hay văn bằng bảo hộ.

Tôi cho rằng, sự thay đổi quan trọng nhất về tư duy là chuyển từ quản lý “nhiệm vụ nghiên cứu” sang quản trị “kết quả và tác động”; từ hỗ trợ cho bên cung công nghệ sang đồng thời tạo cầu cho công nghệ; từ nhập khẩu thiết bị sang tiếp nhận, hấp thụ và tiến tới làm chủ công nghệ.

Khi những mắt xích đó được nối lại, nguồn lực đầu tư cho khoa học, công nghệ mới thực sự chuyển hóa thành năng suất, sức cạnh tranh và năng lực tự chủ của nền kinh tế... Đây cũng chính là yêu cầu để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo không chỉ được xác định là động lực trên văn bản, mà thực sự trở thành động lực trong phát triển đất nước.

ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú (Nghệ An)