Chiều 27/10, tiếp tục chương trình làm việc tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) và dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về thực hiện thí điểm cơ chế thu hồi và xử lý tài sản liên quan đến tội phạm không qua kết tội.

2hgb6fjakniyxnzdeawqxjllk974wwympa1y.jpg
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định điều hành phiên thảo luận tại hội trường. Ảnh: Viết Chung

Làm rõ địa vị pháp lý của người được giao nhiệm vụ điều tra

Theo đại biểu Trần Nhật Minh, dự thảo chưa phân định rõ cơ quan và người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được quy định tại Điều 39, có phải là cơ quan, người tiến hành tố tụng hay không ?

Đại biểu cho biết, Điều 38 dự thảo chỉ quy định cơ quan tiến hành tố tụng gồm: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án; người tiến hành tố tụng gồm: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên Tòa án, mà không có các cơ quan và người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Trong khi đó, đây là cơ quan và người có thẩm quyền nằm trong nhóm cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng quy định tại Chương 3 của dự thảo Bộ luật.

Để làm rõ trách nhiệm, thẩm quyền, đại biểu Trần Nhật Minh đề nghị dự thảo cần phải làm rõ vấn đề này vì việc phân định này có liên quan đến quy định về việc từ chối hoặc thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng quy định tại Điều 53, Điều 54 của dự thảo Bộ luật.

2aobor8py6ut2nwgfmkfhbmgvz5uqvy1easbhiam.jpg
Đại biểu Trần Nhật Minh - Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An phát biểu thảo luận tại hội trường. Ảnh: Lâm Hiển

Theo đại biểu, nếu xác định đây là cơ quan và người tiến hành tố tụng thì cần bổ sung vào Điều 38 về cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; đồng thời bổ sung vào Điều 55 về thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra để bảo đảm tính chặt chẽ, thống nhất của pháp luật.

Trường hợp không xem họ là cơ quan, người tiến hành tố tụng, đại biểu đề nghị làm rõ khi có căn cứ cho rằng họ có thể không vô tư, khách quan trong khi làm nhiệm vụ thì Viện kiểm sát và những người được quy định tại Điều 54 có được thực hiện quyền đề nghị thay đổi hay không.

Đồng thời, cần làm rõ những người thuộc các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có phải từ chối việc thực hiện thẩm quyền điều tra trong các trường hợp quy định tại Điều 53 hay không.

2aobor8py4qudeogrinbxodtsrvdhwkwmk4rhgky.jpg
Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An dự phiên thảo luận tại hội trường. Ảnh: Lâm Hiển

"Cần làm rõ vấn đề này để làm căn cứ pháp lý cho các cơ quan và người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng thực hiện quyền pháp lý của mình", đại biểu Trần Nhật Minh nhấn mạnh.

Bổ sung quy định về quyền của người bào chữa

Về một số bất cập trong quy định của dự thảo luật, đại biểu Trần Nhật Minh đề cập trước hết đến chế định người bào chữa. Điểm c, điểm d khoản 1 Điều 77 quy định quyền của người bào chữa, trong đó có quyền có mặt trong hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và hoạt động tố tụng khác theo quy định của Bộ luật; được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm.

Tuy nhiên, đại biểu cho rằng các quy định này chưa được thể hiện trong các quy định về hoạt động điều tra như đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói. Cụ thể, tại Điều 206 về đối chất, Điều 207 về nhận dạng, Điều 208 về nhận biết giọng nói, dự thảo chỉ quy định Điều tra viên thông báo cho Viện kiểm sát mà chưa quy định việc thông báo cho người bào chữa.

Trong khi đó, tại Điều 200 về hỏi cung bị can, dự thảo quy định trước khi hỏi cung bị can, Điều tra viên phải thông báo cho Kiểm sát viên và người bào chữa về thời gian, địa điểm hỏi cung. Từ đó, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu bổ sung các quy định về quyền của người bào chữa nhằm bảo đảm đầy đủ quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự.

2aobor8py3xu7ignabnmspommasrhvhqssbh0riy.jpg
Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An dự phiên thảo luận tại hội trường. Ảnh: Lâm Hiển

Đại biểu cũng đề cập khoản 2 Điều 218 về khám nghiệm hiện trường, trong đó quy định khi khám nghiệm hiện trường có thể cho người bào chữa tham gia. Quy định này “chưa rõ ràng, còn tùy nghi”, cần được hướng dẫn cụ thể trường hợp nào người bào chữa được tham gia, trường hợp nào thì không được tham gia.

Thay “người thân thích” bằng “thành viên gia đình”

Một nội dung khác được đại biểu Trần Nhật Minh đề cập là khoản 1 Điều 81 về thay đổi hoặc từ chối người bào chữa. Tại điểm b dự thảo bổ sung quy định “người thân thích của người bị buộc tội có quyền từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa”.

Đại biểu cho rằng khái niệm “người thân thích” được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình là một khái niệm tương đối rộng về quan hệ xã hội. Khoản 19 Điều 3 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định “người thân thích là người có quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng, người có cùng dòng máu về trực hệ và người có họ trong phạm vi 3 đời”.

Theo đại biểu, việc xác định đối tượng này trong thực tiễn có thể gặp khó khăn, đặc biệt là xác định người có họ trong phạm vi 3 đời. Trong khi đó, khoản 16 Điều 3 của Luật Hôn nhân và gia đình có quy định khái niệm về “thành viên gia đình” với những đối tượng và mối quan hệ cụ thể như vợ, chồng, cha mẹ đẻ, con đẻ, ông bà nội, ông bà ngoại...

2aobor8py4lpfshrfyvn6jffspxaflfcwxqq9ag0.jpg
Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An dự phiên thảo luận tại hội trường. Ảnh: Lâm Hiển

“Để đảm bảo tính khả thi, đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu thay thế khái niệm ‘người thân thích của người bị buộc tội’ bằng khái niệm ‘thành viên gia đình của người bị buộc tội’ tại điểm b khoản 1 Điều 81 trong dự thảo để dễ áp dụng trong thực tiễn”, đại biểu Trần Nhật Minh đề nghị.

Cuối cùng, đại biểu Trần Nhật Minh đề cập trường hợp vụ án đồng phạm có nhiều người phạm tội nhưng chỉ có một người đề nghị xem xét tạm hoãn việc truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong khi việc tạm hoãn này làm ảnh hưởng đến việc điều tra, truy tố, xét xử đối với bị can, bị cáo khác trong cùng vụ án.

Nhất trí với nội dung tiếp thu, giải trình của cơ quan soạn thảo, tuy nhiên đại biểu cho rằng, trong báo cáo có nêu: “Trường hợp không thể tách vụ án hoặc không thể tạm đình chỉ đối với một bị can, bị cáo thì vụ án không thuộc trường hợp tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự và sẽ được giải quyết theo thủ tục chung”.

Vì vậy, cơ quan soạn thảo cần nghiên cứu bổ sung nội dung này vào Điều 156 về điều kiện áp dụng để làm căn cứ pháp lý trong tổ chức thực hiện.