Chiều 4/8, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, các đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn Nghệ An và Lâm Đồng thảo luận tại tổ về Dự án Luật Dầu khí (sửa đổi); Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Phiên thảo luận do đồng chí Y Thanh Hà Niê Kđăm - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng và đồng chí Nguyễn Khắc Thận - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An đồng chủ trì.
Làm rõ các khái niệm "vì lợi ích chung" và "mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội"
Tham gia góp ý đối với dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn (Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh) bày tỏ sự đồng tình với chủ trương xây dựng cơ chế bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới vì lợi ích chung, đồng thời tạo không gian thử nghiệm trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Theo đại biểu, dự thảo cần tiếp tục rà soát, làm rõ các khái niệm như "vì lợi ích chung" và "mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội". Đây đều là những khái niệm mang tính định tính, nếu không có tiêu chí cụ thể sẽ dẫn đến nhiều cách hiểu và áp dụng khác nhau trong thực tiễn. Đại biểu đề nghị quy định rõ các tiêu chí hoặc giao Chính phủ hướng dẫn chi tiết nhằm bảo đảm thống nhất khi triển khai.
Đối với Điều 5 của dự thảo, đại biểu cho rằng quy định chỉ xem xét không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hoạt động "đã hoàn thành, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội" là quá chặt chẽ. Trên thực tế, nhiều dự án hoặc nhiệm vụ đang triển khai có thể phải tạm dừng hoặc điều chỉnh do phát sinh vi phạm hay rủi ro khách quan nhưng vẫn có giá trị và đáp ứng các điều kiện khác. Đặc biệt, trong nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo, rủi ro là yếu tố khách quan, vì vậy không nên coi việc dự án chưa hoàn thành là căn cứ loại trừ việc xem xét áp dụng cơ chế bảo vệ.
Đại biểu cũng đề nghị sửa đổi các quy định tương tự tại Điều 6 nhằm mở rộng phạm vi áp dụng đối với những hoạt động đang triển khai nhưng có căn cứ chứng minh khả năng mang lại lợi ích cho Nhà nước và xã hội. Đồng thời, cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội hoặc giao Chính phủ quy định cụ thể.
Liên quan đến Điều 9, đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú đề nghị bổ sung cơ chế phối hợp giữa cơ quan tiến hành tố tụng với cơ quan quản lý chuyên ngành trong quá trình đánh giá việc khắc phục hậu quả đối với các vụ việc thuộc lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Theo đại biểu, đây là những lĩnh vực có tính chuyên môn cao, vượt ngoài chức năng đánh giá của cơ quan tố tụng.
Cùng quan tâm đến dự thảo Nghị quyết trên, đại biểu Lương Đình Hưng - Phó Tư lệnh pháp luật Cảnh sát biển Việt Nam thống nhất với sự cần thiết ban hành nghị quyết nhằm cụ thể hóa các chủ trương của Đảng về phòng, chống tham nhũng, khuyến khích đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế.
Đại biểu đề nghị bổ sung cụm từ "tổ chức" trước cụm từ "cá nhân" tại khoản 1 Điều 10 để bảo đảm thống nhất với phạm vi điều chỉnh của dự thảo. Đồng thời, kiến nghị nghiên cứu thiết lập một cơ chế đánh giá độc lập, khách quan về bản chất vụ việc, xác định rõ hành vi có vì lợi ích chung hay không trước khi cơ quan tố tụng xem xét quyết định miễn hoặc tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tham gia góp ý Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, đại biểu Phan Thị Nguyệt Thu - Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh cho rằng quy định quyết định giải quyết bồi thường chỉ có hiệu lực sau 60 ngày kể từ khi người yêu cầu nhận quyết định là chưa phù hợp với nguyên tắc giải quyết bồi thường kịp thời.
Theo đại biểu, quá trình tiếp nhận, thụ lý, xác minh và giải quyết yêu cầu bồi thường đã kéo dài theo quy định của pháp luật. Vì vậy, tiếp tục chờ thêm 60 ngày mới phát sinh hiệu lực sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của người được bồi thường và chưa đáp ứng yêu cầu giải quyết nhanh chóng, công khai, thiện chí.
Rà soát quy định về phân quyền, ưu đãi đầu tư và tín chỉ carbon
Góp ý về Dự án Luật Dầu khí (sửa đổi), đại biểu Vũ Thị Lan Anh -- Ủy viên chuyên trách Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội nhất trí với sự cần thiết sửa đổi luật nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng về bảo đảm an ninh năng lượng, phát triển ngành dầu khí và tháo gỡ những vướng mắc phát sinh trong quá trình thi hành Luật Dầu khí năm 2022.
Đại biểu cho rằng dự thảo cần được rà soát để bảo đảm thống nhất với các luật liên quan như Luật Biển Việt Nam, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, Luật Điện lực, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Thuế và Luật Ngân sách nhà nước.
Về phân quyền cho Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam, đại biểu Vũ Thị Lan Anh đánh giá việc tăng tính chủ động cho doanh nghiệp là cần thiết, song cần xác định rõ ranh giới giữa chức năng quản lý nhà nước với hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Những vấn đề liên quan đến tài nguyên quốc gia, an ninh năng lượng, quốc phòng, chủ quyền hay các ưu đãi đầu tư lớn cần thuộc thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước. Trường hợp giao thêm thẩm quyền cho Tập đoàn, dự thảo cần quy định rõ phạm vi, điều kiện, tiêu chí và cơ chế kiểm tra, giám sát.
Đối với chính sách ưu đãi đầu tư trong hoạt động dầu khí, đại biểu đồng tình với chủ trương khuyến khích khai thác các mỏ nhỏ, mỏ cận biên, khu vực có điều kiện địa chất phức tạp hoặc chi phí cao. Tuy nhiên, các chính sách ưu đãi về thuế cần được rà soát kỹ để bảo đảm thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành, đồng thời đánh giá đầy đủ tác động đối với nguồn thu ngân sách nhà nước.
Đối với các quy định mới về thu giữ, lưu trữ carbon (CCS) trong Dự án Luật Dầu khí, đại biểu Quốc hội chuyên trách tại Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội Phạm Phú Bình đánh giá việc bổ sung nội dung này là phù hợp với xu hướng chuyển dịch năng lượng và giảm phát thải trên thế giới.
Tuy nhiên, đại biểu bày tỏ băn khoăn về quy định cho phép nhà thầu sở hữu tín chỉ carbon phát sinh từ dự án CCS. Theo phân tích, các nhà thầu có thể hạch toán toàn bộ chi phí thực hiện CCS vào hoạt động dầu khí để giảm lợi nhuận tính thuế, trong khi vẫn có quyền giữ tín chỉ carbon và chỉ bán khi thị trường thuận lợi.
Đại biểu cũng đề nghị làm rõ quy định về việc doanh thu từ bán tín chỉ carbon được hạch toán giảm chi phí thu hồi "trong kỳ", bởi chưa xác định rõ "trong kỳ" là thời điểm triển khai dự án hay thời điểm giao dịch tín chỉ carbon. Ngoài ra, việc hạch toán toàn bộ doanh thu mà không tính đến các chi phí phát sinh trong quá trình quản lý tín chỉ carbon cũng cần được nghiên cứu kỹ hơn.
Đại biểu Lương Đình Hưng - Phó Tư lệnh pháp luật Cảnh sát biển Việt Nam cơ bản thống nhất với dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi), cho rằng dự thảo đã bám sát các chủ trương, nghị quyết của Đảng về phát triển ngành dầu khí, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước và nâng cao sức cạnh tranh của môi trường đầu tư.
Đại biểu đề nghị Ban soạn thảo làm rõ cơ sở pháp lý đối với việc sử dụng ngân sách nhà nước cho công tác điều tra cơ bản về dầu khí, bởi dự thảo đang định hướng phần lớn các hoạt động của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam được thực hiện từ nguồn lợi nhuận sau thuế.
Đối với cơ chế ưu đãi đặc biệt quy định tại Điều 42, đại biểu bày tỏ đồng tình vì thực tiễn còn nhiều mỏ dầu khí có điều kiện địa chất đặc biệt khó khăn, vùng biển sâu, xa bờ hoặc có ý nghĩa chiến lược về quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia. Tuy nhiên, đề nghị rà soát để tránh chồng chéo với các quy định hiện hành của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.
Phạm Bằng - Tuấn Tài



