Chiều 4/11, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Quốc hội dành toàn bộ thời gian phiên họp buổi chiều để tập trung thảo luận dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi).
Đại biểu Hoàng Thị Thu Trang - Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An đánh giá, dự thảo đã thể hiện nhiều điểm tiến bộ trong việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế xử lý vi phạm hành chính, đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số, qua đó tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn.
Tuy nhiên, để các quy định của luật thực sự bảo đảm tính khả thi, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, đại biểu tập trung góp ý vào 2 nội dung đáng chú ý.
Cần mở rộng quyền giải trình trong những vụ việc có tính chất phức tạp
Về quyền giải trình của người bị xử phạt, đại biểu Hoàng Thị Thu Trang đề cập quy định tại Khoản 1, Điều 50 của dự thảo luật. Theo đó, quyền giải trình được áp dụng đối với 5 trường hợp, trong đó có hành vi bị tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn; đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và những hành vi có mức phạt tiền đạt ngưỡng luật định.
Cụ thể, đối với hành vi vi phạm có mức phạt tiền tối đa của khung tiền phạt từ 15 triệu đồng trở lên đối với cá nhân và từ 30 triệu đồng trở lên đối với tổ chức, người bị xem xét xử phạt được thực hiện quyền giải trình theo quy định. Một số trường hợp áp dụng mức phạt tính theo tỷ lệ giá trị khoản thu trái pháp luật, số lợi bất hợp pháp hoặc giá trị sản phẩm, hàng hóa cũng thuộc diện được giải trình.
Theo đại biểu, quyền giải trình không đơn thuần là một thủ tục trong quá trình xử phạt mà còn là cơ chế pháp lý quan trọng, tạo điều kiện để người bị xem xét xử phạt trình bày ý kiến, cung cấp chứng cứ, làm rõ các tình tiết liên quan đến hành vi vi phạm và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Đồng thời, thông qua việc tiếp nhận ý kiến giải trình, cơ quan có thẩm quyền có thêm cơ sở để xem xét, đánh giá vụ việc một cách toàn diện, khách quan, hạn chế nguy cơ ban hành quyết định xử phạt thiếu chính xác.
Đại biểu Hoàng Thị Thu Trang phân tích, trên thực tế, tính chất phức tạp của một hành vi vi phạm không phải lúc nào cũng tỷ lệ thuận với mức tiền phạt. Có những hành vi mức phạt không lớn nhưng việc xác định lỗi, chủ thể vi phạm hoặc các tình tiết liên quan lại rất phức tạp, thậm chí còn có sự khác biệt trong cách hiểu và áp dụng pháp luật.
Nếu không được bảo đảm quyền giải trình trong những trường hợp này, người bị xem xét xử phạt có thể mất đi cơ hội cung cấp chứng cứ, làm rõ các tình tiết liên quan để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước khi cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định xử phạt.
Đại biểu cũng đồng tình với quan điểm không nên mở rộng thủ tục giải trình một cách tràn lan, gây kéo dài thời gian giải quyết vụ việc và làm tăng chi phí hành chính. Tuy nhiên, việc đơn giản hóa thủ tục cần được cân bằng với yêu cầu bảo vệ quyền của người dân và bảo đảm tính đúng đắn của quyết định xử phạt.
Từ đó, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu bổ sung quyền yêu cầu giải trình đối với những vụ việc có căn cứ rõ ràng cho thấy chứng cứ có mâu thuẫn, có ý kiến khác nhau về việc xác định hành vi, lỗi hoặc chủ thể vi phạm, kể cả khi mức tiền phạt chưa đạt ngưỡng quy định tại Khoản 5, Điều 50 của dự thảo.
Bên cạnh đó, cần nghiên cứu mở rộng quyền giải trình đối với những trường hợp áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả có tác động trực tiếp và đáng kể đến quyền tài sản, hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
Một vấn đề khác được đại biểu lưu ý là trách nhiệm của người có thẩm quyền xử phạt trong quá trình tiếp nhận và xem xét ý kiến giải trình. Theo đó, dự thảo cần quy định rõ hơn trách nhiệm tiếp nhận, đánh giá và thể hiện kết quả xử lý các ý kiến giải trình trong hồ sơ vụ việc.
Đối với quy định tại Điểm đ, Khoản 1, Điều 50, đại biểu cũng đề nghị rà soát, làm rõ cách diễn đạt liên quan đến việc xác định tiền phạt theo tỷ lệ số lần giá trị khoản thu trái pháp luật, giá trị sản phẩm, hàng hóa và các căn cứ tính phạt khác, bảo đảm quy định dễ hiểu, thống nhất và thuận lợi trong quá trình áp dụng.
Không đồng nhất miễn chế tài với miễn trách nhiệm khắc phục hậu quả
Đối với nội dung miễn thi hành biện pháp khắc phục hậu quả tại Khoản 6, Điều 66 của dự thảo luật, đại biểu Hoàng Thị Thu Trang đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc kỹ, bởi đây là quy định liên quan trực tiếp đến việc xử lý hậu quả thực tế do hành vi vi phạm hành chính gây ra.
Theo đại biểu, cần phân biệt rõ bản chất của nghĩa vụ nộp tiền phạt, các hình thức xử phạt bổ sung với biện pháp khắc phục hậu quả. Trong đó, việc miễn tiền phạt và hình thức xử phạt bổ sung thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức trong những hoàn cảnh nhất định.
Trong khi đó, các biện pháp khắc phục hậu quả được quy định tại Khoản 1, Điều 29 của dự thảo luật có mục đích thu hồi lợi ích bất hợp pháp, xử lý những hậu quả thực tế do hành vi vi phạm gây ra, khôi phục tình trạng ban đầu, loại bỏ nguy cơ và bảo đảm sự tuân thủ pháp luật.
Quan trọng hơn, các biện pháp này còn nhằm bảo vệ trật tự quản lý nhà nước, lợi ích công cộng cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân khác.
Để làm rõ vấn đề, đại biểu đưa ra những ví dụ cụ thể như doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường, cá nhân xây dựng công trình trái phép hoặc cơ sở kinh doanh đưa ra thị trường sản phẩm không bảo đảm an toàn.
Theo đại biểu, ngay cả khi những chủ thể này gặp khó khăn về kinh tế hoặc những vấn đề khác thì hậu quả do hành vi vi phạm gây ra vẫn tồn tại và cần được xử lý. Nếu chỉ căn cứ vào hoàn cảnh khó khăn để miễn nghĩa vụ khắc phục hậu quả, có thể dẫn đến tình trạng hậu quả vi phạm pháp luật không được khắc phục, gây ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, cộng đồng và những người khác.
Đồng tình với việc thể hiện chính sách nhân đạo đối với cá nhân, tổ chức thực sự gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh và những sự kiện bất khả kháng, song đại biểu Hoàng Thị Thu Trang cho rằng, chính sách nhân đạo cần được thiết kế phù hợp với bản chất của từng loại nghĩa vụ pháp lý, từng biện pháp khắc phục hậu quả và mức độ ảnh hưởng đến lợi ích cộng đồng cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác.
“Không nên đồng nhất việc miễn chế tài với việc miễn trách nhiệm khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm gây ra một cách giống nhau”, đại biểu Hoàng Thị Thu Trang nêu ý kiến.
Từ những phân tích trên, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu xác định cụ thể hơn phạm vi, điều kiện được miễn thi hành biện pháp khắc phục hậu quả và những trường hợp không được miễn. Đặc biệt, cần có quy định chặt chẽ đối với các biện pháp cần thiết nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe con người, môi trường, lợi ích công cộng và quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.



