Thế nhưng nhắc đến Củ Chi, không chỉ là người Việt Nam, bạn bè quốc tế, tất thảy Nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới và cả những cựu binh từng tham chiến ở Việt Nam đều có chung một ấn tượng: can trường và bất khuất.

Nhân dân xã Trung Lập Hạ, Củ Chi đào chiến hào phục vụ chiến đấu năm 1966 – ghi lại tinh thần kiên cường của lực lượng hậu phương trong thời chiến. Ảnh: Tư liệu Khu di tích lịch sử Địa đạo Củ Chi

Kỳ quan đánh giặc độc đáo trong lòng đất

Là vùng đất thuộc ngoại ô của Sài Gòn - Gia Định, những năm 60-70 của thế kỷ XX, giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Đồng Khởi - Bến Tre hay Củ Chi - Sài Gòn trở thành tâm điểm càn quét của địch. Bởi ở đây không chỉ có phong trào yêu nước kháng địch sôi nổi và quật cường, mà còn bởi những cách đánh, cách phản kháng với kẻ thù hết sức đặc biệt của người dân. Đồng Khởi hay Củ Chi chính là những biểu tượng của chiến tranh Việt Nam – Chiến tranh Nhân dân, chiến tranh du kích.

Khu tái hiện vùng giải phóng Củ Chi (1961 - 1972)

Từ một chiến sỹ đến mỗi gia đình, từ một đội quân đến cả làng đồng lòng hiệp sức chống giặc. Và Củ Chi đã trở thành “kỳ quan đánh giặc độc đáo” có một không hai khi hình thành những địa đạo, hầm hào trong lòng đất để đánh địch và chống lại những cuộc càn quét của địch. Trong suốt những năm chiến tranh, quân và dân Củ Chi đã dựa vào hệ thống địa đạo để trú ẩn, bảo toàn lực lượng và tổ chức chiến đấu. Ban đầu chỉ là những địa đạo, hầm hào cất giấu tài liệu, vật tư lương thực và nghỉ ngơi trú tránh bom đạn của người dân. Nhưng càng về sau, những năm 1965-1975 khi cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn ác liệt nhất, người dân Củ Chi đã biến cả làng, cả vùng đất thành hệ thống căn cứ bí mật dưới lòng đất thông qua việc xây dựng 250 km địa đạo.

Đường hào trong làng giải phóng thuộc khu di tích Địa đạo Củ Chi, nơi tái hiện sinh hoạt và phòng thủ của quân dân địa phương. Ảnh: Lê Minh/ Báo ảnh Việt Nam

Sự phòng thủ kiên cố, lối đánh đặc biệt, đầy sáng tạo và linh hoạt của Nhân dân Củ Chi đã khiến địch tổn thất nặng nề. Trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, quân và dân Củ Chi đã lập nhiều chiến công. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, từ năm 1954-1975, quân và dân Củ Chi đã đánh 4.270 trận lớn nhỏ, thu gần 8.600 súng các loại; loại khỏi vòng chiến đấu gần 22.600 tên địch; phá hủy trên 5.170 xe quân sự (phần lớn là xe tăng và xe bọc thép); bắn rơi và đánh hỏng 256 máy bay, bắn chìm và cháy 22 tàu xuồng chiến đấu, phá hủy và đẩy lùi 270 đồn bốt.

Hệ thống đường hầm dọc ngang, nhiều tầng, kết hợp với chiến hào, công sự trên mặt đất tạo thành “thiên la địa võng” khiến kẻ thù phải khiếp sợ.

Không chỉ bảo vệ chính mình và bà con Nhân dân trong thôn ấp, Nhân dân Củ Chi còn bao bọc, che chở cho nhiều cán bộ chiến sỹ, có cả cán bộ cấp cao quân giải phóng trú ẩn, hoạt động. Cũng chính giữa cuộc chiến ác liệt ấy, Củ Chi đã hiến dâng cho quê hương, cho tổ quốc nhiều người con dũng cảm, kiên trung. Đội nữ du kích Củ Chi cũng ra đời từ đây, và đã chiến đấu quả cảm ngay giữa “vùng đất thép”.

Chính sự bền bỉ và bất khuất đó của Nhân dân Củ Chi đã khiến đế quốc Mỹ và ngụy quân đưa vào tâm điểm đánh phá, càn quét. Địch quyết tâm triệt phá thôn làng, nhất là hầm hào, địa đạo – những công sự đã trở thành nỗi ám ảnh của địch trong nhiều năm. Đế quốc Mỹ đã tìm nhiều giải pháp để công phá hệ thống địa đạo Củ Chi. Ban đầu là dùng nước phá địa đạo, tiếp đến là huy động đội quân hùng hậu (lực lượng được gọi là ‘chuột cống”) trang bị vũ khí đạn dược tối tân nhằm “bóc vỏ trái đất”, rồi sau đó là chó béc-giê, xe cơ giới san ủi địa đạo… Thế nhưng tất cả đều thất bại trước “kỳ quan đánh giặc độc đáo” trong lòng đất, “kỳ quan yêu nước son sắt” trong lòng Nhân dân Củ Chi.  

Một số liệu ghi nhận tội ác của địch nhưng đồng thời cũng cho thấy sức chịu đựng, ý chí và bản lĩnh không khuất phục trước kẻ thù của Nhân dân Củ Chi. Đó là giai đoạn 1954-1975, đế quốc Mỹ đã thả xuống mảnh đất này 500.000 tấn bom đạn và 480 tấn chất độc hóa học(có cả chất độc da cam/dioxin). Toàn huyện Củ Chi đã trải qua 50.454 trận càn quét, 10.101 dân thường bị chết; trên 10.000 cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh.

Thế nhưng Củ Chi vẫn vững vàng là “Đất thép thành đồng”, vẫn sừng sững ở đó với hệ thống địa đạo sau bao trận càn quét, oanh tác của kẻ thù mà không hề bị suy chuyển.

Biểu tượng của tinh thần thép Việt Nam

Kết thúc chiến tranh, hòa bình lập lại, Củ Chi trở thành địa danh lịch sử nổi tiếng để du khách lui tới. Trong dòng người đổ về Củ Chi mỗi ngày có các thế hệ người dân Việt Nam, có bạn bè quốc tế, có những người nghiên cứu lịch sử, nghiên cứu chiến tranh và khoa học quân sự. Nhân dân đến để tri ân, tưởng nhớ và tỏ niềm tự hào về đồng bào chiến sỹ mình; thế giới đến để chiêm ngưỡng và cũng một phần vì hiếu kỳ, muốn tìm hiểu, phân tích, lý giải hiện tượng Củ Chi.

Hana – tên nước ngoài của Mai Linh, cô bé có bố mẹ là người Việt định cư ở Cộng hòa liên bang Đức. Nhiều lần về Việt Nam thăm nội ngoại nhưng đều lỡ hẹn, lần này em mới thỏa ước nguyện đến Củ Chi một lần. Em kể: ở lớp, cô giáo người nước ngoài của em cứ nhắc và hỏi hoài về Củ Chi khi biết em là người Việt Nam. Tham quan rồi trực tiếp trải nghiệm địa đạo, Mai Linh rất hào hứng vì biết rằng sau chuyến đi này, cô bé có thể tự hào kể cho cô giáo và nhiều người bạn nước ngoài của mình về Củ Chi.

Khu di tích lịch sử Địa đạo Củ Chi là địa chỉ lý tưởng để giáo dục truyền thống cách mạng, chủ nghĩa yêu nước, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn với người dân.

Nếu tìm hiểu về chiến tranh Việt Nam, nếu là người Việt được học, đọc, nghe, xem về lịch sử Việt Nam thì hẳn sẽ hiểu được phần nào Củ Chi, hiểu được sự kỳ diệu của chiến tranh Nhân dân, của cách đánh du kích và sự anh dũng kiên cường của người dân Nam bộ. Thế nhưng có không ít người đến Củ Chi nhiều lần vẫn tự đặt câu hỏi: Tại sao chỉ cách Sài Gòn đô hội - trung tâm xa hoa bậc nhất Đông Nam Á lúc bấy giờ có 40-50 km mà người dân Củ Chi lại không bị cuộc sống hào nhoáng đó thao túng, lôi kéo. Thật lạ, họ lại chấp nhận đói ăn thiếu mặc, ẩn nấp dưới lòng đất, chiến đấu hy sinh và thậm chí bị tra tấn, càn quét dã man nhưng nhất định không khuất phục trước những cám dỗ của kẻ thù. Sự phản kháng bằng súng đạn trên chiến trường thật sự can trường nhưng việc từ chối theo địch, từ chối cuộc sống phồn hoa cũng bản lĩnh và kiên cường không kém.

Câu hỏi rất đỗi giản dị đó nhưng cả dân tộc Việt Nam phải mất hàng ngàn năm chịu cảnh đô hộ áp bức, lớp lớp người dân phải đánh đổi bằng xương máu và nước mắt mới tìm thấy câu trả lời. Củ Chi hay hàng trăm, hàng ngàn làng quê từ Bắc vào Nam khác của Việt Nam đều như thế, chung một ý chí: Không có gì quý hơn độc lập tự do!     

Đoàn đại biểu tỉnh Nghệ An thăm, ôn lại ký ức lịch sử hào hùng tại Di tích lịch sử Địa đạo Củ Chi

Từ Củ Chi, người ta có thể phần nào hiểu vì sao một đất nước nhỏ bé lại có thể đánh thắng một cách vẻ vang 2 đế quốc hùng mạnh trên thế giới. Dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX đã đi qua những thăng trầm của lịch sử. Mỗi một giai đoạn, Việt Nam đều để lại một mốc son chói lọi trên bản đồ chính trị và quân sự thế giới. Từ cách mạng Tháng Tám 1945, đến Điện Biên Phủ 1954, từ Đại thắng mùa Xuân 1975 đến hòa bình, đổi mới…trên giải đất hình chữ S này có bao kỳ tích được viết nên bởi những con người bình dị, đầu trần chân đất với khát vọng hòa bình độc lập nhưng buộc phải đi qua những cuộc chiến tàn khốc nhất trong lịch sử nhân loại. Mỗi anh hùng liệt sỹ ngã xuống, mỗi thôn ấp bản làng đều có thể tạo nên kỳ tích. Đó cũng là lý giải thuyết phục nhất cho sự can trường, bất khuất của Củ Chi và địa đạo Củ Chi.

          Xin được mượn những câu thơ đầy tự hào khi viết về mùa Thu lịch sử của nhà thơ Nguyễn Đình Thi để thay cho lời kết, để một lần nữa khẳng định lý do những địa danh như Củ Chi, Đồng Khởi, Truông Bồn, Ngã ba Đồng Lộc trở thành những biểu tượng…và lý do Việt Nam được bạn bè quốc tế kính phục: Trời xanh đây là của chúng ta/ Núi rừng đây là của chúng ta/ Những cánh đồng thơm mát/ Những ngả đường bát ngát/ Những dòng sông đỏ nặng phù sa/ Nước chúng ta/ Nước những người chưa bao giờ khuất…