002(1)_watermarked.jpg
ĐBQH Nguyễn Sỹ Hội (Nghệ An) phát biểu

Góp ý về nội dung sửa đổi Luật Thú y, ĐBQH Nguyễn Sỹ Hội (Nghệ An) cho biết, Luật Thú y năm 2015 gồm 7 chương, 116 điều; dự thảo lần này sửa đổi 7 điều (gồm Điều 41, 46, 47, 52, 56, 57 và 96), cơ bản bao quát các nội dung cần bổ sung. Tuy nhiên, trong bối cảnh đã thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, một số quy định của Luật hiện vẫn còn đề cập đến cấp huyện.

Đại biểu dẫn chứng, tại Chương I về quy định chung, Điều 6 về hệ thống thú y vẫn quy định các cấp Bộ, tỉnh, huyện, xã; Điều 9 về nhiệm vụ của UBND các cấp vẫn có tỉnh, huyện và xã. Tại Chương IV về kiểm soát giết mổ, chế biến, Điều 76 vẫn quy định trách nhiệm của UBND các cấp tỉnh, huyện, xã.

Vì vậy, ĐBQH Nguyễn Sỹ Hội đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, điều chỉnh các quy định này để phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

cac-dai-bieu-quoc-hoi-tinh-nghe-an-tham-gia-thao-luan-tai-to.-(2).jpg
ĐBQH tỉnh Nghệ An tham gia thảo luận tại tổ

Bên cạnh đó, đại biểu đề nghị quan tâm hơn đến phân cấp, phân quyền trong hệ thống thú y; đồng thời lưu ý các lĩnh vực khác như thủy lợi, trồng trọt cũng cần được quan tâm trong quá trình sửa đổi.

Theo đại biểu, tại các trung tâm thành phố, thị xã, việc tổ chức thực hiện tương đối thuận lợi, nhưng vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới có những đặc thù cần được tính đến... “Nghệ An hiện có 79 xã miền núi; tại những địa bàn này, hoạt động thủy lợi, thú y phục vụ chăn nuôi vừa gắn với sinh kế của người dân, vừa gắn với việc thực hiện các cơ chế, chính sách”, đại biểu nêu dẫn chứng.

Từ thực tiễn đó, ĐBQH Nguyễn Sỹ Hội đề nghị Luật có định hướng về cơ chế, chính sách đối với cấp xã tại vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển đảo và nông thôn. Dù nhiều nội dung sẽ tiếp tục được hướng dẫn bằng nghị định, thông tư, theo đại biểu, ở cấp luật vẫn cần xác lập định hướng chung để bảo đảm việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp được thông suốt, phù hợp với các luật có liên quan; đồng thời tạo điều kiện để chính quyền sở tại chủ động, đồng bộ và hoạt động hiệu quả hơn.

k1_watermarked.jpg
ĐBQH Nguyễn Văn Ngọc (Lâm Đồng) phát biểu

Ở một khía cạnh khác, ĐBQH Nguyễn Văn Ngọc (Lâm Đồng) lưu ý nội dung sửa đổi Luật Thủy sản dự kiến bãi bỏ cả yêu cầu về an toàn sinh học đối với cơ sở nuôi thử nghiệm loài thủy sản chưa có tại Việt Nam. Theo đại biểu, đây là khâu tiềm ẩn nguy cơ xuất hiện và xâm hại của sinh vật ngoại lai.

Vì vậy, đại biểu đề nghị chỉnh lý khoản 1 Điều 5 theo hướng chỉ bãi bỏ điểm a và điểm b, giữ lại yêu cầu cần thiết nhằm bảo đảm năng lực và điều kiện an toàn của cơ sở nuôi thử nghiệm.

Tự công bố phải gắn với trách nhiệm và hậu kiểm

Góp ý khoản 4 Điều 3 dự thảo Luật, sửa đổi Điều 33 Luật Chăn nuôi, ĐBQH Dương Khắc Mai (Lâm Đồng) đồng tình với việc loại bỏ thủ tục không cần thiết, trao quyền chủ động cho doanh nghiệp và chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm đối với sản phẩm thức ăn chăn nuôi.

dai-bieu-duong-khac-mai-lam-dong-phat-bieu-thao-luan-tai-to.jpg
ĐBQH Dương Khắc Mai (Lâm Đồng) phát biểu

Tuy nhiên, theo đại biểu, tự công bố không đồng nghĩa với giảm trách nhiệm quản lý nhà nước hoặc chuyển toàn bộ rủi ro sang người chăn nuôi, người tiêu dùng. Thức ăn chăn nuôi là đầu vào trực tiếp của quá trình sản xuất, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng vật nuôi, an toàn dịch bệnh và chất lượng sản phẩm thực phẩm. Nếu thông tin về thành phần, tiêu chuẩn hoặc công dụng không chính xác, thiệt hại thường chỉ được phát hiện sau khi sản phẩm đã lưu thông, sử dụng trên diện rộng.

Vì vậy, đại biểu đề nghị xác lập rõ 3 nguyên tắc: tổ chức, cá nhân tự công bố phải chịu trách nhiệm toàn diện về tính chính xác, trung thực và khả năng kiểm chứng của thông tin, đồng thời lưu giữ đầy đủ hồ sơ, tài liệu chứng minh phục vụ hậu kiểm, truy xuất nguồn gốc; cơ quan quản lý phải có thẩm quyền đình chỉ, hủy bỏ thông tin tự công bố, yêu cầu thu hồi sản phẩm và công khai hành vi vi phạm khi sản phẩm không đáp ứng yêu cầu; hậu kiểm phải thực hiện theo mức độ rủi ro, tập trung vào sản phẩm, cơ sở có nguy cơ cao, tránh kiểm tra dàn trải hoặc chỉ kiểm tra khi hậu quả đã xảy ra.

img_7835.jpeg
ĐBQH tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên thảo luận tổ
cac-dai-bieu-quoc-hoi-tinh-nghe-an-tham-gia-thao-luan-tai-to.-.jpg
ĐBQH tỉnh Nghệ An tham gia phiên thảo luận tổ

Đại biểu cũng lưu ý doanh nghiệp có thể phải công bố thông tin trên hai hệ thống khác nhau: Cổng thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Môi trường và cơ sở dữ liệu về tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng. Nếu dữ liệu không được liên thông, việc bỏ một thủ tục có thể làm phát sinh thủ tục trùng lặp dưới hình thức khác. Do đó, cần thực hiện nghiêm nguyên tắc khai báo một lần, dùng chung dữ liệu giữa các bộ, ngành và địa phương, không yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại thông tin mà cơ quan nhà nước đã có.

Từ thực tiễn Lâm Đồng, nơi hoạt động sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi phân bố trên địa bàn rộng, nhiều cơ sở cách xa trung tâm hành chính, đại biểu Dương Khắc Mai cho rằng hậu kiểm dựa trên dữ liệu và phân loại rủi ro là điều kiện để vừa giảm thủ tục, vừa bảo đảm hiệu quả quản lý chất lượng vật tư đầu vào.

k2.jpg
ĐBQH Cil Bri (Lâm Đồng) phát biểu

Cùng quan tâm đến yêu cầu hậu kiểm, ĐBQH Cil Bri (Lâm Đồng) tán thành việc sửa đổi Luật Trồng trọt theo hướng cho phép tự công bố lưu hành giống cây trồng nhằm đơn giản hóa thủ tục, giảm thời gian và chi phí cho tổ chức, cá nhân.

Tuy nhiên, theo đại biểu, giống cây trồng ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng nông sản và hiệu quả sản xuất; những hạn chế về chất lượng thường chỉ được phát hiện sau một thời gian gieo trồng, khi thiệt hại đã phát sinh. Vì vậy, cơ chế tự công bố phải gắn với trách nhiệm của chủ thể công bố và hậu kiểm phù hợp.

Đại biểu đề nghị bổ sung phương thức công bố thay thế khi Cổng thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Môi trường chưa hoàn thiện hoặc gặp sự cố, tránh làm gián đoạn việc tự công bố và lưu hành giống cây trồng.

img_7838.jpeg
ĐBQH tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên thảo luận tổ

Về bãi bỏ điều kiện buôn bán giống cây trồng và phân bón, đại biểu cho rằng cần phân biệt giữa thủ tục, giấy phép có thể cắt giảm với những nghĩa vụ vẫn phải duy trì để quản lý chất lượng và bảo vệ người sản xuất. Đối với giống cây trồng, cần duy trì nghĩa vụ lưu giữ, cung cấp thông tin phục vụ truy xuất nguồn gốc lô giống. Đối với phân bón, nếu bãi bỏ Giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán thì phải làm rõ phương thức quản lý thay thế, bảo đảm trách nhiệm về chất lượng, nguồn gốc, nhãn hàng hóa, hóa đơn, chứng từ.

Từ thực tiễn Lâm Đồng, nơi có nhiều vùng chuyên canh rau, hoa, cà phê và cây trồng có giá trị kinh tế cao, đại biểu lưu ý việc sử dụng giống hoặc phân bón không bảo đảm chất lượng có thể gây thiệt hại lớn, khó khắc phục. Đặc biệt, tại vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, khả năng kiểm tra nguồn gốc, nhận biết chất lượng vật tư nông nghiệp còn hạn chế. Vì vậy, theo ĐBQH Cil Bri, việc cắt giảm điều kiện kinh doanh phải đi cùng bảo đảm năng lực kiểm nghiệm, cơ sở dữ liệu, kết nối, chia sẻ thông tin giữa Trung ương với địa phương; đồng thời có phương thức thực hiện phù hợp với điều kiện hạ tầng và khả năng tiếp cận công nghệ tại các địa bàn đặc thù.

Đại biểu đề nghị tiếp tục rà soát Điều 1 dự thảo Luật theo hướng vừa cắt giảm thủ tục, điều kiện đầu tư kinh doanh, vừa duy trì các công cụ cần thiết để quản lý chất lượng giống cây trồng và phân bón, tránh tạo khoảng trống pháp lý.