Bảo đảm nguồn kinh phí tương ứng với nhiệm vụ được giao

Thống nhất với định hướng bảo đảm nguồn lực cho cấp xã và giao HĐND cấp tỉnh quyết định phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi, song đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú cho rằng cần quy định rõ nguồn kinh phí tương ứng khi giao thêm nhiệm vụ chi cho cấp xã.

Theo đại biểu, cấp xã hiện trực tiếp thực hiện nhiều nhiệm vụ quản lý nhà nước, cung ứng dịch vụ công và quản lý đầu tư, trong khi nguồn thu và năng lực quản lý tài chính giữa các xã rất khác nhau. Đặc biệt, tại các xã miền núi, biên giới, địa bàn rộng, dân cư phân tán, nguồn thu hạn chế nhưng chi phí cung ứng dịch vụ công, đầu tư và duy trì kết cấu hạ tầng lại lớn.

bo-truong-bo-tai-chinh-ngo-van-tuan-giai-trinh-lam-ro-mot-so-van-de-vqk_5907.jpg
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn giải trình, làm rõ một số vấn đề các ĐBQH nêu. Ảnh: Quang Khánh

“Nếu chỉ phân cấp nhiệm vụ mà không xác định đầy đủ nguồn kinh phí thực hiện, cấp xã sẽ thiếu điều kiện để hoàn thành nhiệm vụ”, đại biểu nhấn mạnh.

Từ thực tế đó, đại biểu đề nghị bổ sung tại khoản 3 Điều 41 quy định khi giao nhiệm vụ chi mới cho cấp xã phải xác định nguồn kinh phí bảo đảm, bao gồm cả kinh phí vận hành, bảo trì tài sản sau đầu tư; ngân sách cấp tỉnh thực hiện điều tiết, hỗ trợ theo khả năng cân đối và cơ chế phân cấp.

Đối với điểm a khoản 2 Điều 42, dự thảo đã có các tiêu chí về dân số, vùng khó khăn và biên giới. Tuy nhiên, theo đại biểu, cần lượng hóa thêm chi phí cung ứng dịch vụ công cơ bản, mức độ phân tán dân cư và khối lượng nhiệm vụ được giao khi xác định số bổ sung cân đối ngân sách.

Liên quan đến quản lý, sử dụng nguồn tăng thu ngân sách nhà nước tại khoản 2 Điều 69, đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú đề nghị làm rõ căn cứ xác định số tăng thu có thể sử dụng và trách nhiệm giải trình về phương án phân bổ.

img_7436.jpeg
ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú (Nghệ An). Ảnh: Khánh Duy

Đại biểu phân tích, một số khoản tăng thu từ đất đai hoặc biến động thị trường chỉ phát sinh một lần. Nếu sử dụng những khoản thu này để tạo ra nghĩa vụ chi thường xuyên dài hạn, ngân sách các năm sau có thể thiếu nguồn bảo đảm. Vì vậy, cần phân biệt quyền chủ động điều hành trong phạm vi dự toán đã được quyết định với việc thay đổi những nội dung thuộc thẩm quyền của Quốc hội, HĐND.

Từ đó, đại biểu đề nghị bổ sung tại Điều 69 nguyên tắc phân bổ tăng thu phải căn cứ vào số thu thực hiện, dự báo thu cả năm, tính ổn định của nguồn thu và khả năng cân đối trung hạn; đồng thời thuyết minh riêng những khoản thu có tính chất một lần.

Dự thảo đã quy định mục đích sử dụng tăng thu, gồm giảm bội chi, trả nợ, cải cách tiền lương, đầu tư và an sinh xã hội. Theo đại biểu, cần làm rõ nguyên tắc ưu tiên thực hiện các nghĩa vụ tài khóa bắt buộc, chỉ giao nhiệm vụ mới khi có nguồn bảo đảm và trình cơ quan dân cử quyết định nếu vượt thẩm quyền điều hành.

Đồng thời, rà soát Điều 69 để bảo đảm thống nhất với phương án chỉnh lý thuật ngữ tại Điều 4 và cơ chế xử lý ngân sách cuối năm tại Điều 86.

Siết điều kiện chuyển nguồn, gắn đánh giá với xử lý dự án kém hiệu quả

Đề cập đến việc chuyển nguồn ngân sách nhà nước, đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú dẫn số liệu từ Báo cáo thẩm tra cho thấy, số chi chuyển nguồn từ năm 2022 sang năm 2023 là 1.146.676 tỷ đồng; từ năm 2024 sang năm 2025 lên tới 1.439.178 tỷ đồng, tương đương 67% số thực chi ngân sách năm 2024.

259a4798.jpg
Các ĐBQH dự phiên họp tại hội trường. Ảnh: Khánh Duy

Theo đại biểu, mặc dù có những khoản chuyển nguồn cần thiết, đúng quy định, nhưng quy mô chuyển nguồn lớn đặt ra yêu cầu đánh giá lại chất lượng lập dự toán, khả năng triển khai nhiệm vụ và tiến độ sử dụng ngân sách.

Đối với điểm c khoản 3 Điều 86, dự thảo cho phép chuyển nguồn đối với chương trình mục tiêu quốc gia đang trong thời gian thực hiện. Báo cáo số 914 đề nghị giữ quy định này. Tuy nhiên, đại biểu cho rằng cần bổ sung điều kiện chuyển nguồn theo từng dự án, nhiệm vụ, không đồng nhất thời hạn thực hiện chương trình với nhu cầu vốn thực tế.

Theo đó, khi đề nghị chuyển nguồn, phải xác định rõ nhiệm vụ còn hiệu lực, số vốn, tiến độ và khả năng giải ngân; đồng thời báo cáo cụ thể nguyên nhân chuyển nguồn theo từng dự án, nhiệm vụ.

Đối với khoản 5 Điều 86, đại biểu đề nghị quy định rõ việc xử lý kinh phí hết thời hạn chuyển nguồn hoặc không còn nhiệm vụ chi, bảo đảm thống nhất với quy định về hủy dự toán và quyết toán ngân sách.

Tại điểm đ khoản 6 Điều 86, đại biểu đề nghị thay yêu cầu “cam kết giải ngân toàn bộ” bằng trách nhiệm lập phương án giải ngân khả thi, chịu trách nhiệm về quyết định chuyển nguồn, tiến độ và kết quả thực hiện; đồng thời giải trình rõ nguyên nhân không hoàn thành.

259a4778.jpg
Các ĐBQH tỉnh Nghệ An dự phiên họp tại Hội trường. Ảnh: Khánh Duy

Đối với điểm l khoản 3 Điều 86, cần nghiên cứu quy định trường hợp hoàn trả ngân sách cấp trên theo quyết định xử lý tài chính hoặc văn bản xác định nghĩa vụ hoàn trả của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, thay vì sử dụng khái niệm chung “ý kiến của cơ quan có thẩm quyền”.

Liên quan đến đánh giá hiệu quả đầu tư công và xử lý các dự án kéo dài, kém hiệu quả, ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú cho rằng, Báo cáo tiếp thu, giải trình dự kiến làm rõ nguyên tắc đánh giá hiệu quả đầu tư tại Điều 9; Điều 84 cũng đã có các hình thức đánh giá. Tuy nhiên, vấn đề cần bổ sung là trách nhiệm sử dụng kết quả đánh giá để xử lý dự án.

“Một dự án có thể giải ngân hết, quyết toán đúng nhưng chưa đạt mục tiêu. Ngược lại, công trình y tế, giáo dục ở vùng khó khăn có thể không có nguồn thu trực tiếp nhưng tạo lợi ích xã hội lớn”, đại biểu phân tích.

Từ thực tế đó, đại biểu đề nghị quy định chi tiết các tiêu chí đánh giá phù hợp với từng loại dự án, gồm mức độ đạt mục tiêu, kết quả đầu ra, chi phí vòng đời, hiệu quả kinh tế - xã hội và chi phí vận hành; không lấy hiệu quả tài chính làm tiêu chí duy nhất đối với các dự án phúc lợi xã hội.

259a4938.jpeg
Toàn cảnh phiên họp tại hội trường. Ảnh: Khánh Duy

Đồng thời, bổ sung tại Điều 84 trách nhiệm đánh giá lại khi dự án chậm tiến độ nghiêm trọng, tăng tổng mức đầu tư lớn, thay đổi mục tiêu cơ bản hoặc có nguy cơ không đạt hiệu quả; ngưỡng cảnh báo cần phù hợp với từng loại dự án.

Trên cơ sở kết quả đánh giá, cơ quan có thẩm quyền phải quyết định tiếp tục thực hiện có điều kiện, điều chỉnh, tạm dừng hoặc chấm dứt dự án; đồng thời xử lý vốn, tài sản và các nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.

Đối với khoản 6 Điều 81, dự thảo đã quy định trách nhiệm của người quyết định đầu tư. Đại biểu đề nghị làm rõ thêm trách nhiệm xử lý kịp thời các cảnh báo rủi ro, phân biệt nguyên nhân khách quan với trường hợp thiếu trách nhiệm hoặc vi phạm pháp luật.